Đăng nhập

Trang nhấtTừ điển họcTừ điển học trên đường học tập và nghiên cứu (Tiếp theo kì trước phần II)

GS.TS LÝ TOÀN THẮNG

BÀI THỨ HAI

LOẠI HÌNH TỪ  ĐIỂN HỌC

Sau vấn đề lí luận cơ bản cần bàn đến đầu tiên là khái niệm “từ điển học”, thì vấn đề cần bàn đến tiếp sau là các “loại hình” (type) từ điển, hay “loại hình học” từ điển (dictionary typology).

Quả nhiên, chúng ta không thể bắt tay vào việc biên soạn một cuốn từ điển cụ thể nào đó mà lại không bắt đầu bằng công việc hình dung xem rằng nó thuộc “loại hình” gì?

Về phương diện này, đỏng chú ý nhất là cách phân loại từ điển theo sáu kiểu đối lập do L.V. Sherba (Л. В. Щерба), nhà ngôn ngữ học Nga nổi tiếng, đưa ra từ năm 1940:

(i) Đối lập giữa từ điển hàn lâm/chuẩn mực và từ điển tra cứu (словарь академического типа-словарь-справочник);

(ii) Đối lập giữa từ điển bách khoa và từ điển phổ thông/từ điển ngôn ngữ (энциклопедический словарь - общий словарь/лингвистический словарь) (chúng tôi nhấn mạnh - LTT);

(iii) Đối lập giữa từ điển tổng toàn và từ điển thông thường (tường giải hay đối dịch) (тезаурус** - обычный (толковый или переводной) словарь);

(iv) Đối lập giữa từ điển thông thường (tường giải và đối dịch) và từ điển ý niệm (обычный (толковый или переводной) словарь - идеологический (идеографический) словарь);

(v) Đối lập giữa từ điển tường giải (đơn ngữ) và từ điển đối dịch (song ngữ/đa ngữ) (толковый словарь - переводной словарь);

(vi) Đối lập giữa từ điển phi lịch sử và từ điển lịch sử (неисторический словарь - исторический словарь).

Qua các đối lập trên, có thể thấy rằng có khá nhiều loại hình từ điển khác nhau.

Tuy nhiên, trong thực tế về lÍ luận về từ điển học, thường thì các học giả hay đi sâu hơn cả vào loại hình “từ điển ngôn ngữ” (đơn ngữ và song ngữ). Ở Việt Nam cũng vậy, truyền thống từ điển học ở ta cơ bản là “từ điển ngôn ngữ” (ta quen gọi là “từ điển ngữ văn) mà trên thị trường hiện nay, như có thể thấy, bày bán rất nhiều các loại từ điển tường giải tiếng Việt, các từ điển đối dịch ngoại ngữ - Việt, Việt - ngoại ngữ, các từ điển song ngữ tiếng dân tộc - tiếng Việt, tiếng Việt - tiếng dân tộc, v.v.

Trước hết, ta hãy điểm lại một số quan niệm của các nhà từ điển học trong nước

Đầu tiên là quan niệm của Nguyễn Ngọc Trâm (2003). Bà đi theo cách phân biệt giữa từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ, sau đó mới chia từ điển ngôn ngữ ra thành:

+ từ điển song ngữ (hoặc đa ngữ)

+ từ điển đơn ngữ, lại chia nhỏ ra: từ điển lịch đại – từ điển đồng đại, từ điển phổ thông – từ điển hạn chế. Riêng từ điển phổ thông lại được chia nhỏ hơn ra: từ điển miêu tả chung – từ điển miêu tả - chuẩn.

Tiếp đó, Chu Bích Thu (2005) phân biệt: từ điển giải thích (từ điển một thứ tiếng) và từ điển đối dịch (từ điển song/đa ngữ); sau đó từ điển giải thích được chia nhỏ ra gồm:

+ từ điển ngữ văn

+ từ điển bách khoa và từ điển giải thích thuật ngữ

Vũ Quang Hào (2005) chia ra ba loại lớn: từ điển ngữ văn, từ điển khái niệm (từ điển thuật ngữ) và các công trình bách khoa, sau đó ông chia nhỏ ra:

+ từ điển ngữ văn: một thứ tiếng - nhiều thứ tiếng

+ từ điển thuật ngữ: một thứ tiếng - nhiều thứ tiếng

+ các công trình bách khoa: từ điển bách khoa – bách khoa thư

 Rồi từng loại này lại đựơc chia nhỏ hơn nữa. Thí dụ từ điển ngữ văn một thứ tiếng gồm: từ điển giải thích, từ điển chính tả, từ điển đồng nghĩa, từ điển trái nghĩa, từ điển tần số, từ điển tác giả, từ điển thành ngữ, tục ngữ, v.v.

Nhìn ra thế giới, quả nhiên cũng thấy có khá nhiều cách phân loại từ điển ngôn ngữ, và có khá nhiều học giả tên tuổi từng đề cập đến chuyện này (như Щерба, Sebeok, Cornyn, Gelb, Zgusta, Al Kasimi, Singh, Svensen, v.v.).

Tuy nhiên, đáng chú ý là quan niệm của Makiel (1959, 1967) về các tiêu chí (feature) phân loại từ điển (về sau này đã được nhiều người phát triển thêm lên). Cụ thể là, theo Makiel, trước hết ta có sự đối lập đầu tiên giữa các tiêu chí bên trong và bên ngoài (internal vs. external), trong đó:

(i) theo các tiêu chí bên trong: liên quan đến các phương diện khác nhau của ngôn ngữ như: hệ hình vs. hệ cú đoạn (paradigmatic vs. syntagmatic); hình thức vs. ý nghĩa; thời gian (một lát cắt hay một giai đoạn) và lĩnh vực (toàn bộ hay một phần) của vốn từ, v.v.;

(ii) theo các tiêu chí bên ngoài: liên quan đến các phương diện như mục đích của từ điển, đối tượng người dùng từ điển, kích cỡ, cách sắp xếp mục từ, số lượng ngôn ngữ, v.v.

Từ đây có thể đưa ra các loại hình từ điển cụ thể hơn, thí dụ như:

(i) theo các tiêu chí bên trong về hệ cú đoạn sẽ có: từ điển các tổ hợp hằng kết (collocation), từ điển quán ngữ (idiom), thành ngữ (phrase) v.v.;

(ii) theo các tiêu chí bên trong về hình thứcý nghĩa sẽ có:

+ nếu kết hợp cả hai (hình thức và ý nghĩa) sẽ có: từ điển phổ thông

+ nếu xét riêng từng cái một, thì:

- về ý nghĩa sẽ có: từ điển đồng nghĩa, từ điển trái nghĩa, từ điển ý niệm, “thesaurus” v.v.;

- về hình thức sẽ có: từ điển chính tả, từ điển viết tắt, v.v.

Ở đây cần chú ý rằng chữ “thesaurus” có hai cách hỉểu:

a) Dành cho các từ điển trình bày cái “kho tàng từ vựng” như một danh sách (theo các lớp lang) của các từ - khái niệm với các đồng nghĩa của chúng mà điển hình là cuốn “Thesaurus of English words and phrases” (xuất bản lần đầu năm 1852) của P. M. Roget;

b) Dành cho các từ điển trong đó các từ được tập hợp lại thành các nhóm dựa theo sự tương đồng về ý nghiã của chúng (gần nghĩa, đồng nghĩa). Thí dụ trong cuốn “OXFORD Pocket School Thesaurus” (2005) của R. Allen, có hơn 150.000 từ đồng nghĩa. Mục đích của loại từ điển này không phải là giải thích nghĩa từ, mà là nhằm cung cấp cho người đọc những cái “alternative” (sự lựa chọn một trong hai hay nhiều khả năng) của các từ mà họ cần biết để sử dụng. Thí dụ, một từ như nice từ điển bình thường chỉ giải thích nghĩa của nó sang tiếng Việt như là: ‘dễ chịu, dễ thương, thú vị, thích thú; tốt, đẹp; ân cần, thân mật...’, nhưng ở từ điển “Thesaurus” thì khác, nó cho ta ứng với mỗi nghĩa của từ này là một dãy để lựa chọn; thí dụ, với nice trong nghiã là ‘dễ chịu, tốt,…’ (Ví dụ: They are such nice people) ta có cả một dãy: pleasant (vui vẻ), likeable (thích thú), agreeable (dễ chịu), personable (duyên dáng), friendly (thân mật), congenial (tâm đầu ý hợp, tương đắc), genial (chan hoà)…

Theo Makiel, sự phân chia này có thể chi tiết hơn nữa, thí dụ như theo các tiêu chí bên trong về lĩnh vực vốn từ sẽ có: từ điển phổ thông (general) và từ điển hạn chế/chuyên môn (restricted/special). Hai tiểu loại hình này lại có thể được chia ra nhỏ hơn, thí dụ loại các từ điển hạn chế lại bao gồm một số loại nhỏ sau, dựa trên những tiêu chí như:

+ Sự biến đổi của ngôn ngữ, ta có: từ điển phương ngữ;

+ Thể loại văn bản (văn học, triết học, tôn giáo…), ta có: từ điển văn bản (text dictionaries). Từ điển văn bản lại có thể được chia nhỏ ra theo một tiêu chí nào đó, thí dụ: từ điển chú dẫn (indices dictionary), từ điển phụ lục/chỉ mục (concordances dictionary) và từ điển bình giảng (exegetic dictionary - đặc biệt hay dành cho những từ ngữ dùng trong Kinh Thánh);

+ Còn có thể nói đến các “đơn vị từ vựng đặc biệt” mà từ đó ta có các từ điển như: từ cổ, từ mới, từ vay mượn, nhân danh, địa danh, v.v.

Dưới đây, chúng tôi muốn tập trung đi sâu hơn vào từ điển học ở Nga (và Liên Xô trước đây) vốn là một đất nước có truyền thống về cả hai lĩnh vực từ điển học: lí thuyết và ứng dụng.

Các học giả Nga đưa ra những tiêu chí “loại hình” (типологические признаки) để từ đó phân ra các loại từ điển ngôn ngữ học (лингвистические словари), chẳng hạn như sau:

A) Từ góc độ chọn lựa từ vựng (отбор лексики), phân biệt ra:

a) Các từ điển kiểu “tổng toàn(тезаурус): Cần chú ý rằng chữ “тезаурус” ở đây được hiểu theo truyền thống từ Л. В. Щерба, tức là theo nghĩa như một loại từ điển trong đó ghi lại toàn bộ vốn từ của một ngôn ngữ, không có một sự lựa chọn, phân biệt nào – khác với các từ điển loại (b) dưới đây.

b) Các từ điển kiểu còn lại, trong đó từ ngữ được chọn lựa theo những thông số nhất định (параметр), cụ thể là:

(i) Theo phạm vi sử dụng, phân biệt ra các từ điển:

○ khẩu ngữ/hội thoại (разговорный)

○ bình dân/thông tục (просторечный)

○ địa phương

○ tiếng lóng

○ thuật ngữ

○ từ ngữ thi ca

○ v.v.

(ii) Theo góc nhìn lịch sử, phân biệt ra các từ điển:

○ từ cổ (архаизм)

○ từ ngữ lịch sử (историзм)

○ từ ngữ tân tạo (неологизм)

(iii) Theo gốc gác, phân biệt ra các từ điển:

○ từ ngoại lai (иностранные словa)

○ từ quốc tế (интернационализм)

(iv) Theo đặc điểm các kiểu từ ngữ, phân biệt ra các từ điển:

○ viết tắt

○ tên riêng

○ những trường hợp hãn hữu (окказионализм)

(v) Theo nguồn cội (источник), phân biệt ra từ điển:

○ tác giả

B) Từ góc đ các bình diện (аспект) của từ, phân biệt ra các từ điển:

a) từ nguyên

b) ngữ pháp

c) chính tả

d) chính âm

e) hư từ

g) v.v.

C) Từ góc độ mối quan hệ hệ thống giữa các từ, phân biệt ra các từ điển:

a) tổ từ (гнездовый)

b) cấu tạo từ

c) đồng âm

d) đồng nguyên (паронимический) (theo bình diện biểu đạt)

e) đồng nghĩa, trái nghĩa (theo bình diện nội dung)

D) Từ góc độ chọn lựa đơn vị miêu tả, phân biệt ra các từ điển:

a) hình vị

b) cụm từ

c) thành ngữ

d) trích đoạn (цитаты)

e) v.v.

E) Từ góc độ miêu tả nhát cắt đồng đại (диахронический срез), phân biệt ra các từ điển:

a) lịch sử

b) các giai đoạn, thời kì khác nhau của ngôn ngữ hiện thời

G) Từ góc độ chức năng, phân biệt ra các từ điển:

a) Theo tần số xuất hiện, phân biệt ra các từ điển:

(i) tần số

(ii) các từ hiếm gặp (редкиe словa)

b) Theo cách sử dụng tu từ (стилистическое использование), phân biệt ra các từ điển:

(i) ẩn dụ

(ii) hình dung ngữ (эпитеты)

(iii) so sánh

(iv) từ ngữ biểu cảm

c) Theo đặc trưng về chuẩn, phân biệt ra các từ điển:

(i) các từ ngữ khó (труднось)

(ii) các cách dùng đúng (правильность)

H) Từ góc đ phương hướng trình bày ngữ liệu, phân biệt ra các từ điển:

a) Xuất phát từ hình thức, phân biệt ra các từ điển:

(i) ngược

(ii) vần

b) Xuất phát từ nội dung, phân biệt ra các từ điển:

(i) biểu ý (идеографический)

(ii) chủ đề

Nếu chỉ xem xét riêng một tiêu chí “loại/cỡ” trong sự phân loại các từ điển thì cũng đã đủ thấy “tính vấn đề” của nó: thế nào là cỡ “lớn”/”to”, là cỡ “vừa”/”trung bình” hay cỡ “nhỏ”?

Sự phân chia này, thực ra, ở một mức độ nào đó, cũng chỉ là quy ước.

Thí dụ, các từ điển đối dịch, theo tiêu chí này, người ta thường phân chia ra làm 3 loại, dựa theo số lượng từ, số lượng trang hay số lượng chữ in (thí dụ, đến 8.000 từ là loại nhỏ, từ 8.001 - 21.000 từ là loại trung bình và v.v.).

Mỗi loại từ điển đối dịch này đều có phạm vi độc giả của mình và có đặc thù riêng của nó.

Nhà xuất bản cũng có những tiêu chuẩn của họ, thí dụ NXB “Langenscheidt” ở Đức đề xuất ra các “serie” từ điển đối dịch song ngữ như:

1) Từ điển tổng hợp (universal): gồm cả Đức - ngoại ngữ và ngoại ngữ - Đức trong một cuốn, khoảng 500 trang, khổ nhỏ, rất tiện cho người mới học tiếng hay khách du lịch;

2) Từ điển bỏ túi (taschen): cũng theo mô hình trên, nhưng khoảng hơn 1.000 trang, khổ nhỏ, dành cho người muốn học tiếng cẩn thận, và có phần mô tả chuyen đề về Từ pháp học;

3) Từ điển cầm tay (hand): in tách riêng Đức - ngoại ngữ hay ngoại ngữ - Đức, khoảng 750 trang, khổ trung bình; riêng đối với một số ngoại ngữ như tiếng Anh thì từ điển loại này được in ra dưới dạng “từ điển học sinh cỡ lớn” và chỉ khác ở khổ sách: nó in nhỏ hơn và do đó dày hơn, khoảng 1.500 trang;

4) Từ điển cỡ lớn: đối với các ngôn ngữ như tiếng Anh, Pháp, Ý, Latin và Hi Lạp cổ, gồm 2 phần: Đức - ngoại ngữ và ngoại ngữ - Đức, gồm khoảng hơn 150.000 từ và ngữ và tầm khoảng 750-1.200 trang, khổ to.

Cần chú ý rằng: có hai nhân tố quan trọng, liên quan đến các “loại hình” từ điển – đó là vấn đề “mục đích” (purposes) và “người dùng/người sử dụng” (use/ ползователь) từ điển. Ở Việt Nam, những chuyện này nói chung đang còn ít được giới nghiên cứu quan tâm đến một cách đầy đủ, thấu đáo.

Có một giao điểm mà hai cái này – “người dùng” và “mục đích” – gặp nhau: đó là từ điển làm ra có mục đích là để giúp cho người dùng trong hai việc: “cảm thụ” (đọc - hiểu) ngôn bản và “tạo sinh” (viết / nói ra) ngôn bản. Và do đó từ điển sẽ phải chịu sự chi phối của cái nhân tố “kiểu” (type/тип) người dùng đó là ai?

Từ lâu trong bộ môn liên ngành “ngôn ngữ học - tâm lí” (psycholinguistics / психолинвистика) các học giả đã nghiên cứu rất kỹ hai quá trình “tạo sinh” (production/производство) và “cảm thụ” (perception / воспртятие) lời nói (vốn là những đối tượng nghiên cứu chính của bộ môn này). Sự phân biệt cơ bản là như sau:

a) Người nói (hay người viết) khi tạo sinh một câu nói (hay một văn bản) đi theo một cơ trình “từ ý đến lời”, tức là đầu tiên họ phải có một “ý định nói năng” trong đầu, rồi từ đó xây dựng một “chương trình” bằng “lời nói bên trong” (chưa phải là “lời nói bên ngoài” như khi ta giao tiếp với nhau) rồi phải chuyển từ “lời nói bên trong” ra “lời nói bên ngoài”, đi tìm cái cấu trúc ngữ nghiã và sau đó là cấu trúc ngữ pháp tương ứng cho câu nói ở “đầu ra”. Ở Nga rất nổi tiếng là mô hình “Смысл <==> Текст” (Ý <==> Ngôn bản) của Trường phái nghĩa học Moskva, đặc biệt là với tên tuổi của И. A. Meльчук.

b) Người nghe (hay người đọc) khi cảm thụ một câu nói (hay một văn bản) đi theo một cơ trình ngược lại: “từ lời đến ý ”, tức là đầu tiên họ phải “nghe” cái “âm thanh” câu nói đó, rồi phải suy ra cái cấu trúc ngữ pháp và sau đó là cấu trúc ngữ nghiã tương ứng của nó, rồi từ đó mà “hiểu” đúng cái “ý định nói năng” mà người nói muốn truyền đạt.

 Trong các lí thuyết dạy tiếng cũng có một quan niệm được nhiều người biết tới là quan niệm về hai “thứ” ngữ pháp: ngữ pháp “chủ động” (active/aктивная) dành cho người nói, và ngữ pháp “bị động” (passive/пассивная) dành cho người nghe.

Đối với từ điển học, vấn đề được đặt ra về bản chất cũng tương tự như trên, và điều này thấy rất rõ trong địa hạt cuả các từ điển song ngữ.

Nhiều học giả Nga đã nói đến chuyện này và nói đến từ lâu. Cụ thể là như sau.

Trong một từ điển đối dịch, như mọi người đều biết, có hai ngôn ngữ: L1 và L2. Ngôn ngữ mà ta dịch nó gọi là “ngôn ngữ đầu vào” (L1) ở phần bên trái của Từ điển, còn ngôn ngữ được ta dịch sang là “ngôn ngữ đầu ra” (L2) ở phần bên phải của Từ điển.

Từ điển làm ra cần phải xác định được mục đích của nó là nhằm vào “kiểu” người sử dụng nào?

Điều này trước hết phụ thuộc vào tiếng mẹ đẻ của họ.

Trong ngôn ngữ học - tâm lí (cũng như trong lí thuyết dạy tiếng) có sự phân biệt rất rõ giữa hai quá trình “học tiếng” (hay “thủ đắc ngôn ngữ” – tiếng Nga: вдадение/oвладение, tiếng Anh: acquisition), vốn khác nhau về bản chất: một bên là thủ đắc tiếng mẹ đẻ và một bên khác là thủ đắc ngoại ngữ. Một thí dụ rất dễ thấy là, Ta học tiếng mẹ đẻ từ khi ta chào đời, ta biết “nói” trước, rồi sau đến trường ta mới học “viết”, học “đọc” và học những khái niệm ngôn ngữ học về phụ âm, nguyên âm; từ đơn, từ ghép; chủ ngữ, vị ngữ, v.v. Nhưng khi ta học ngoại ngữ thì mọi chuyện lại “lộn tùng phèo” hết cả: bắt đầu ta phải học “chữ”, học các quy tắc về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, v.v. để biết “nói” ngoại ngữ đó.

Trở lại câu chuyện “kiểu” người sử dụng từ điển song ngữ.

Thí dụ, nếu ta dự định biên soạn một cuốn Từ điển Anh - Việt ở Việt Nam, nhằm giúp cho người Việt Nam tra cứu khi học tập, giảng dạy và sử dụng tiếng Anh, thì đối với trường hợp “kiểu” người sử dụng này: tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ của họ và tiếng Anh là ngoại ngữ.

Điều này khác xa với trường hợp cũng là Từ điển Anh - Việt, nhưng được biên soạn ra không phải nhắm vào người Việt Nam tra cứu tiếng Anh, mà là cho người nói tiếng Anh tra cứu tiếng Việt khi họ học tập, giảng dạy và sử dụng tiếng Việt. Đối với trường hợp “kiểu” người sử dụng này, thì tiếng Việt là ngoại ngữ, còn tiếng mẹ đẻ của họ lại là tiếng Anh.

Vì thế, không ít các nhà lí thuyết từ điển học đã nghĩ rằng: lí tưởng ra thì mỗi loại hình từ điển chỉ nên có một “kiểu” người sử dụng, và trên thực tế người ta đã xuất bản một số loại từ điển này: thí dụ, đã có từ điển Nga - Anh dành cho người Nga và từ điển Nga - Anh dành cho người Anh (Tuy nhiên vì nhiều lí do thực tế, nên đại đa số từ điển song ngữ hiện nay vẫn được làm ra là để phục vụ đông đảo và đồng thời cho cả hai kiểu người dùng).

Những điều vừa nói trên về từ điển song ngữ cũng hoàn toàn đúng về nguyên tắc với từ điển đơn ngữ, tường giải một ngôn ngữ nào đó.

Có lẽ không mấy ai phản đối một điều (mà chúng ta có quyền mong ước sẽ là như vậy trong một tương lai gần) – đó là làm ra hai cuốn từ điển tiếng Việt khác nhau. Một cuốn dành cho người Việt (như ta đang có của nhiều tác giả) và một cuốn dành cho người nước ngoài học tiếng Việt (như ta chưa có và rất nên có)…

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

A. Tiếng Việt

[1] Vũ Quang Hào 2005, Kiểm kê từ điển học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.

[2] Nhiều tác giả 1997, Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[3] Hoàng Phê & Nguyễn Ngọc Trâm 1993, Một số vấn đề về từ điển học, “Ngôn ngữ”, s. 4.

[4] Hoàng Phê 1969, Về việc biên soạn một cuốn từ điển tiếng Việt phổ thông, “Ngôn ngữ”, s. 2.

[5] Nguyễn Văn Thạc 2005, Tiếp xúc học và Từ điển học, “Ngôn ngữ”, s. 4.

[6] Đào Thản 1997, Hệ thống các kiểu chú trong từ điển tiếng Việt // Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[7] Lý Toàn Thắng 2009-2010, Từ điển học hệ thống: Một thành tựu của ngôn ngữ học Nga và Xô viết, “Từ điển học & Bách khoa thư”; các số: 1+2-2009; 1+2+3+5-2010.

[8] Lý Toàn Thắng 2011, Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu (Bài thứ nhất: Xung quanh khái niệm “Từ điển học”), “Từ điển học & Bách khoa thư”; s. 1..

[9] Chu Bích Thu 1997, Một số nét khái quát về cấu trúc vi mô của từ điển giải thích // Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[10] Chu Bích Thu 2001, Giới thiệu sơ lược về từ điển và từ điển học Việt Nam, “Ngôn ngữ”, s. 14.

[11] Chu Bích Thu 2005, Từ điển và từ điển học Việt Nam // Lược sử Việt ngữ học”, tập I (Nguyễn Thiện Giáp chủ biên), NXB Giáo dục, Hà Nội.

[12] Hồ Hải Thuỵ 2004-2005, Suy nghĩ lại về nghề làm từ điển, “Ngôn ngữ & Đời sống”, s. 12-2004, s. 1+2-2005.

[13] Hồ Hải Thuỵ 2009, Từ điển và Từ điển học ngày nay, “Từ điển học & Bách khoa thư”, s. 2.

[14] Nguyễn Ngọc Trâm 2003, Về cấu trúc vĩ mô của Từ điển tiếng Việt cỡ lớn, “Ngôn ngữ”, s. 8.

B. Tiếng Nga

[1] Aпресян Ю. Д. 2009, Исследования по семантике и лексикографию, том 1 (Парадигматика), Изд. Языки славянских култур, Москва.

[2] Берков В. П. 1996, Двуязычная лексикография, Санкт-Петербург.

[3] Гак В. Г. 1990, Лексикография // Лингвистический энциклопедический словарь, Moсква.

[4] Дубичинслий В. В. 2009, Лексикография русского языка, Moсква.

[5] Козырев В. А. Черняк В. Д. 2004, Лексикография русского языка, Moсква.

[6] Шимчук Э. Г. 2009, Лексикография русского языка, Moсква.

C. Tiếng Anh

[1] Jackson H. 2002, Lexicography: An Introduction, Routledge – London & New York.

[2] Hartmann R. R. K. &James G. 2002, Dictionary of Lexicograph,. Routledge – London & New York.

[3] Malkiel Y. 1959, 1967, A typological Clasification of dictionaries on the basic of the distinctive features // Problems in Lexicography (Householder and Sol. Saporta eds.), New York.

[4] Piet van Sterkenburg (ed.), 2003, A Pratical Guide to Lexicography, John Benjamins – The Netherlands.

[5] Zgusta, Barnhart, Malkiel,… 1980, Theory and Method in Lexicography: Western and Non-Western Perspectives, Columbia – South Caroline.

SUMMARY

This is the author’s second article on the subject “Lexicography on the Way of Learning and Studying” (starting from No. 1-2011). The author goes deeply into analyzing the contents in connection with the issue of “Lexicographical typology”, through the points of view of the world’s lexicographs (L. V. Shcherba, Y. Malkiel, L. Zgusta…) and Vietnamese lexicographs (Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm, Chu Bích Thu…), etc. These are basic knowledge of which lexicographs should take care and have a thorough grasp.



Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 02, năm 2011

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...