Đăng nhập

Trang nhấtBách khoa toàn thưThử nhìn lại bộ Từ điển bách khoa Việt Nam đầu tiên

NGUYỄN HUY CÔN

Bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam, 4 tập, cỡ trung bình đã được xuất bản trọn bộ vào năm 2005. Ròng rã trong 10 năm, lần lượt các tập 1 (1995), tập 2 (2002), tập 3 (2003) và tập 4 (2005) - sau một thời gian dài mang nặng đẻ đau - rốt cuộc rồi cũng ra đời. Đây là bộ Từ điển Bách khoa đầu tiên của Việt Nam, được xem là một công trình văn hoá - khoa học lớn của đất nước. Bộ từ điển này đã đáp ứng được nhu cầu đông đảo của người đọc có trình độ trung học trở lên, trong một chừng mực nhất định cũng đã thoả mãn được yêu cầu tra cứu qua 4 vạn mục từ thuộc 40 chuyên ngành. Trong những điều kiện khó khăn về vật chất kĩ thuật, về chuyên môn nghiệp vụ và nguồn nhân lực, phải nói đó là một thành công lớn, đáp ứng lòng mong mỏi của nhiều người, từ Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn cho đến các người tham gia trong các ban biên soạn và nhất là đông đảo các công tác viên. Con số hơn 1.200 nhà khoa học thuộc các lĩnh vực, các ngành khác nhau tham gia trong suốt quá trình soạn thảo của từng ban, nếu tính từ khi bắt tay vào công việc từ năm 1987, đã nói lên công sức và nhiệt tình đóng góp cho bộ Từ điển này.

Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn lại, chúng ta thấy còn có nhiều điều chưa hoàn chỉnh, có sai sót, có thiên lệch. Đó là những nhược điểm tất yếu khi chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc biên soạn loại từ điển này, với khối lượng mục từ lớn của nhiều chuyên ngành khác nhau, lực lượng biên soạn lại không chuyên và chưa được huấn luyện bài bản. Bên cạnh đó, việc xuất bản kéo dài đến hàng thập niên mới kết thúc cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tác phẩm.

Sau khi đã xuất bản xong từng tập cũng như đủ bộ đã có nhiều ý kiến khen chê khác nhau đăng trên báo chí, thường mới chỉ tập trung vào những sai sót trong một số mục từ về địa lí, lịch sử ở địa phương, về tên riêng, về quy mô diện tích của thành phố hay chiều dài của con sông nào đấy chảy qua địa phương. Điều này là tất nhiên khi thời gian biên soạn và in ấn kéo dài, trong khi tỉnh này, huyện kia đã có sự thay đổi do tách nhập về hành chính. Lại nữa, sự thay đổi về tổ chức và nhân sự của Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa theo quyết định số 288-CT năm 1987 và số 746/QĐ năm 1998 cũng là nguyên nhân làm xáo trộn, có ảnh hưởng tới việc chỉ đạo chung của quá trình biên soạn. Về lực lượng biên soạn, cách tổ chức cũng không thống nhất. Có ban biên soạn đủ sức để tự biên soạn bảng mục từ của mình, nhưng cũng có ban biên soạn chỉ mang tính chất tổ chức chỉ đạo, còn chủ yếu là dựa vào các cộng tác viên. Cũng vì thế mà có ban biên soạn quá nhiều người (ví dụ: Ban Công nghiệp, có đến 76 cộng tác viên; Ban Nông nghiệp có đến 196 công tác viên), hoặc quá ít người trong ban biên soạn (ví dụ: các Ban Mĩ thuật, Âm nhạc, Sân khấu, v.v. ban biên soạn chỉ có người không quá 10 người). Qua cách tổ chức như vậy thấy rõ là chưa có sự phân loại sắp xếp các chuyên môn khác nhau trong ngành một cách khoa học theo hệ thống phân loại tiêu chuẩn. Lại nữa, trong việc biên soạn chưa có sự phối hợp giữa các bộ môn trong một ngành với nhau, chưa nói là giữa các ngành với nhau.

Tại thời điểm bắt đầu biên soạn bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam, hầu hết các ngành, các bộ môn khoa học đều chưa có từ điển bách khoa hay bách khoa thư) riêng, thậm chí thuật ngữ khoa học chuyên ngành cũng chưa chuẩn hoá và thiếu tính thống nhất. Có thể đếm trên đầu ngón tay những ngành có từ điển bách khoa vào thập niên 1990 và 2000: Nông nghiệp (1991), Quân sự (1996), Xây dựng - Kiến trúc (2003), Sinh học (2003), Y học (2004), Thiên văn học (1995-2005). Việc phân bổ số lượng mục từ cho các ban biên soạn cũng chưa hợp lí, theo nguyên tắc bình quân (40.000 từ cho 40 chuyên ngành), bởi có nhiều ngành, khó xoay sở với 1.000 mục từ như công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, song cũng có những bộ môn với số lượng được phân bổ như vậy cũng là quá đủ, bởi có những mục từ vừa là chung, vừa là riêng đối với một số ngành, nhất là văn học - nghệ thuật.

Trên đây là những nhận xét chung về những nhược điểm trong quá trình biên soạn bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam đầu tiên. Trong phạm vi ngành Xây dựng - Kiến trúc, chúng tôi xin đi sâu thêm một số tồn tại không tránh khỏi để cùng rút kinh nghiệm:

1. Số mục từ phân cho ngành xây dựng – kiến trúc chưa hợp lí

Ngay từ đầu, Trung tâm Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam giao xuống cho các ban biên soạn kiến trúc 1.000 mục từ, còn các mục từ thuộc Xây dựng lại nằm trong khối lượng mục từ của ban biên soạn Công nghiệp. Cách phân chuyên ban như vậy dẫn tới sự mất cân đối về số lượng mục từ cũng như khả năng đóng góp của các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng công trình kiến trúc, giao thông, thuỷ lợi. Nằm trong ban biên soạn về công nghiệp nói chung, tất nhiên các mục từ về xây dựng cũng bị hạn chế, chỉ có thể đưa ra những mục từ cơ bản, không có trong bảng mục từ kiến trúc. Về phần mình, các mục từ về kiến trúc lại có liên quan nhiều đến lĩnh vực nghệ thuật. Chỉ có thể xác định được số lượng các mục từ kiến trúc - xây dựng một cách hợp lí khi áp dụng hệ thống quốc tế về phân loại chi tiết cho ngành.

2. Nội hàm / sự giải thích của một số mục từ còn phiến diện

Điều này là do chưa xét hết những mục từ có sự giao thoa của nhiều ngành khác nhau. Nói cách khác là chưa lồng ghép được nội dung cần biểu đạt của mục từ, cụ thể là mặt thiết kế xây dựng và sử dụng khai thác công trình. Ví dụ: mục từ Bảo tàng lịch sử Việt Nam nếu ngành kiến trúc biểu đạt là một công trình kiến trúc nổi tiếng, xây dựng từ đầu thế kỉ 20, trong đó nêu thời gian xây dựng, tác giả, đặc điểm kĩ thuật và mĩ thuật của công trình thì ngành văn hoá chỉ nêu thuần tuý về công năng của một công trình văn hoá, có bao nhiêu gian trưng bày, trưng bày cái gì, có những cổ vật quý hiếm ra sao, v.v. Tương tự, các mục từ chiếu sáng, ánh sáng tự nhiên, ánh sáng nhân tạo trong từ điển, nếu nói về kiến trúc thì phải biểu đạt thì nội hàm là một biện pháp kĩ thuật quan trọng để giải quyết tiện nghi và mĩ quan cho công trình, song trong từ điển (tập 1), nội hàm chỉ nêu thiên về lĩnh vực sân khấu và nhiếp ảnh. Rất nhiều ví dụ như vậy có thể dẫn ra ở tất cả các tập khác của bộ Từ điển.

3. Thiếu thống nhất trong phân loại mục từ

Trong cùng với một loại mục từ (thuộc từng lĩnh vực khoa học kĩ thuật, văn học nghệ thuật, v.v.) không thể có sự phân loại khác nhau được. Sự phân loại thiếu thống nhất này dẫn tới bỏ sót nội hàm của ngành có liên quan. Ví dụ: các chủ nghĩa/xu hướng trong văn học - nghệ thuật nói chung thường bao gồm cả văn học, mĩ thuật, âm nhạc, kiến trúc chứ không thể trình bày khác nhau như mục từ chủ nghĩa (tập 1):

- Chủ nghĩa cấu trúc (triết)

- Chủ nghĩa cổ điển (triết học, văn học, nghệ thuật)

- Chủ nghĩa hiện đại (văn)

- Chủ nghĩa lãng mạn (văn, mĩ thuật, âm nhạc),

v.v.

4. Thời gian biên soạn và in ấn bộ Từ điển Bách khoa Việt Nam kéo dài

Trong khi trên thế giới và trong nước có nhiều dữ kiện mới cần cập nhật và sửa đổi (về chính trị, địa lí, phát minh khoa học - công nghệ, v.v.) thì không kịp thời đính chính. Tính từ khi tổ chức biên soạn năm 1987, sau 18 năm mới hoàn thành trọn bộ là thời gian quá dài cho một bộ từ điển 4 tập, cỡ trung, không quá 4.000 trang.

5. Hình ảnh minh hoạ trong bộ từ điển chưa phong phú và không đồng đều ở các tập

Cũng phải thấy rằng chất và lượng minh hoạ cho bộ tiêu chuẩn có tiến bộ theo số tập. Điều này dễ hiểu, do thời gian sưu tầm hình ảnh có hạn và kĩ thuật in ấn sau này tốt hơn. Đối với từ điển bách khoa, chúng ta cần chú trọng khâu minh hoạ ngay từ đầu và phải thống nhất với các ban biên soạn. Chuẩn bị một “font” đầy đủ và thống nhất ngay từ đầu cho toàn bộ các tập, không chỉ trông chờ ở các ban biên soạn. Từ điển Bách khoa phổ thông một tập của NXB Larousse (Pháp) xuất bản từ năm 1979 mà đã có 4.254 bản đồ, hình vẽ và ảnh minh hoạ (trong đó có 3.500 ảnh màu chất lượng cao) do 10 chuyên gia bản đồ, hoạ sĩ và nhiếp ảnh lành nghề phụ trách cho chúng ta một ví dụ về việc coi trọng “kênh” hình ảnh, minh hoạ… như thế nào.

Trên đây là một số nhận xét của chúng tôi, rút ra trong quá trình biên soạn và xem lại cả bộ Từ điển Bách khoa Việt nam. Những nhược điểm nêu trên là khó tránh khi chúng ta lần đầu tiên triển khai một bộ từ điển cỡ trung trong các điều kiện không mấy thuận lợi. Ngoài ra, còn nhiều vấn đề khác về phiên âm, viết tắt, về tiêu chí đánh giá mức độ khó của từ điển, v.v., cũng chưa có dịp bàn thêm. Tuy nhiên, việc dám nghĩ, dám làm và vẫn có sản phẩm sau hàng thập niên là điều đáng trân trọng. Điều cơ bản là những người yêu sách vẫn tự hào khi trên giá sách của mình có đầy đủ 4 tập của Từ điển Bách khoa Việt Nam đầu tiên để tiện tra cứu. Tuy nhiên, với tình hình hiện tại, chúng ta phải cần xúc tiến công việc sửa chữa, biên soạn lại bộ sách rất cần thiết này.

SUMMARY

The author makes his judgments about the satisfactory and unsatisfactory aspects, chiefly the shortcomings, of the Encyclopedic Dictionary of Vietnam (4 volumes). This comment should be referred to draw experience in organizing, compiling, and publishing follow-up encyclopedic works in Vietnam.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 01, năm 2010

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...