Đăng nhập

Trang nhấtBách khoa toàn thưThông tin Bách khoa về địa phương trong Từ điển Phương ngữ tiếng Việt

PGS.TS PHẠM VĂN HẢO

1. Mở đầu

Mặc dù xuất hiện muộn trong làng từ điển, cho đến nay chúng ta đã có 9 quyển từ điển phương ngữ tiếng Việt (TĐPN), đó là chưa kể các tập ngữ vựng trong các chuyên luận, luận văn. Theo Kiểm kê từ điển học Việt Nam, Vũ Quang Hào (2005) tuy rất chú ý đến các bài viết và những thông tin về TĐPN, nhưng trong phần danh mục kiểm kê, ông chỉ kể đến sách của Đặng Thanh Hoà mà thôi. Như thế là ở mảng sách này chưa được giới thiệu kĩ. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi xin liệt kê các sách theo thời gian in ấn như sau: 1. Nguyễn Văn Ái (cb), Sổ tay phương ngữ Nam Bộ, 1987, tái bản với tên “Từ điển phương ngữ Nam Bộ”, 1994; 2. Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, 1993; 3. Trần Hữu Thung và Thái Kim Đỉnh, Từ điển tiếng Nghệ, 1997; 4. Nguyễn Nhã Bản (cb), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, 1999; 5. Nguyễn Như Ý (cb), Từ điển đối chiếu tiếng địa phương, 1999; 6. Bùi Minh Đức, Từ điển tiếng Huế, 2001 (năm 2009 tái bản đến lần 3 có bổ sung sửa chữa thành 2 tập); 7. Đặng Thanh Hoà, Từ điển phương ngữ tiếng Việt, 2005; 8. Huỳnh Công Tín, Từ điển từ ngữ Nam Bộ, 2006; 9. Phạm Văn Hảo (cb), Từ điển phương ngữ tiếng Việt, 2009.

Chúng tôi xin nêu ngay mấy nhận xét dễ thấy: 1) Tuy xuất hiện muộn nhưng TĐPN phát triển về số lượng khá nhanh, chúng được biên soạn và in cả ở trong nước (8 quyển) và ở nước ngoài (1 quyển của Bùi Minh Đức). 2) Chiếm đa số trong chúng là các sách làm về phương ngữ cụ thể (Nghệ Tĩnh: 2, Thừa Thiên – Huế: 1, Nam Bộ: 3). Ba quyển còn lại phản ánh chung các phương ngữ tiếng Việt, đó là các sách của các tác giả Nguyễn Như Ý, Đặng Thanh Hoà và Phạm Văn Hảo. 3) Có tới 8/9 quyển in ở các nhà xuất bản khác nhau trong nước, 1 quyển in ở nước ngoài (sách của Bùi Minh Đức, in ở Mĩ). 4) Trong số 9 quyển từ điển loại này thì có 6 quyển các tác giả là các nhà ngôn ngữ học, số còn lại là những người hoạt động ở các lĩnh vực khác, ví dụ: Vương Hồng Sển là nhà hoạt động văn hoá, Trần Hữu Thung là nhà thơ, Thái Kim Đỉnh là nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, Bùi Minh Đức là bác sĩ nha khoa làm việc ở nước ngoài.

Có một điều hẳn không ngẫu nhiên có liên quan tới nhận xét 4) ở trên, đó là thực tế: các nhà ngôn ngữ học làm TĐPN thì chỉ đưa tri thức ngôn ngữ là chủ yếu, còn tri thức bách khoa (nếu có) chỉ là rất phụ; trong khi đó, những người làm ở các lĩnh vực khác làm từ điển loại này thì sách của họ khá đậm đặc về thông tin vượt ra khỏi giới hạn tri thức ngôn ngữ. Chúng tôi tạm gọi những loại thông tin này là các thông tin “mang tính chất bách khoa”. Việc đánh giá về tình hình này rất cần thiết, bởi lẽ đây sẽ là định hướng quan trọng cho những ai muốn làm loại TĐPN trong tương lai. Đây chính là mục đích cơ bản của chúng tôi khi viết bài này.

2. Thông tin bách khoa và sự hiện diện của chúng trong từ điển phương ngữ

2.1. Thông tin bách khoa

Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê cb) thì “bách khoa” là từ thông thường, vốn dùng phụ sau danh từ để chỉ các bộ môn, các ngành khoa học và kĩ thuật, nói tổng quát. Còn “từ điển bách khoa” là loại sách tra cứu về nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau, được sắp xếp, trình bày theo kiểu từ điển. Các cách hiểu ấy dễ dẫn đến định kiến là các kiến thức, các thông tin loại này thường nghiêng về tháp ngà của nhiều ngành khoa học, kĩ thuật. Thực tế thì chữ “bách khoa” không hẳn chỉ bó hẹp như thế. Chiết tự Hán Việt, “bách” là trăm, thể hiện ý nhiều, còn “khoa” là các tri thức chung về mọi lĩnh vực, cả khoa học kĩ thuật lẫn đời sống. Vậy “thông tin bách khoa”, hiểu một cách nôm na, là thông tin chung và nằm ngoài giới hạn của thông tin ngôn ngữ, nói trong điều kiện chúng ta đang xem xét.

Trên thực tế, ranh giới giữa thông tin ngôn ngữ và thông tin bách khoa thật khó xác định. Trong từ điển ngữ văn, về mặt lí thuyết, người ta vẫn dành cho loại thông tin này một vị trí nhất định trong lời định nghĩa, coi như một ý, hay một nét nghĩa, với một tỉ lệ khiêm tốn. Nếu vượt ra ngoài giới hạn “mong manh” này, lời định nghĩa dễ đi vào thế giới bách khoa rộng lớn, khó kiểm soát. Ví dụ, từ cúp tóc trong TĐPN chỉ cần định nghĩa bằng từ tương đương “cắt tóc” là đủ. Nếu đưa thêm để giới thiệu các biến thể địa phương khác, như “hớt tóc”, “cúp đầu” (cũng ở tiếng Trung Bắc) thì vẫn còn là thông tin ngôn ngữ. Trong Từ điển tiếng Huế, Bùi Minh Đức đưa thêm các thông tin: “Cúp tóc ở Huế thời xưa thường có nhiều kiểu cho con trai: cúp trọc, cúp vá (để lại hai mảng tóc hai bên), cúp carre tức cúp ngắn. Ngày nay, ít khi còn có các kiểu cúp này. Thời ấy mỗi lần cúp còn được cào gàu, xoa bóp da đầu, cạo mặt và cả váy tai, cùng “cà mí mắt”, nắm cổ, hấp khăn nóng vào mặt, cạo râu, gội đầu”. Đây là các thông tin mang tính chất mở rộng, được “nhớ đâu kể đó” (bằng lời văn dễ dãi, vốn là lối nói địa phương), cũng có thể tạm coi là một thứ thông tin thêm mang tính chất bách khoa về địa phương.

Có điều đáng chú ý là, những thông tin bách khoa về địa phương như vậy chưa hẳn đã là không tốt, thậm chí chúng còn gây nhiều sự hứng thú, tò mò, hấp dẫn người đọc. Nhất là hiện nay trên thế giới đang có xu hướng “nhìn thoáng” vào công việc biên soạn từ điển, với mục đích đưa loại sách này phục vụ đời sống tốt hơn là cách làm hàn lâm. Điều này xét cho cùng gần với mục đích tối thượng của các loại sách cung cấp tri thức như từ điển, là chuyển đến người đọc “cái họ cần” bằng cách “mở rộng thông tin cho mỗi đơn vị từ vựng”, như ta vẫn nghe bàn đến gần đây.

Tuy nhiên, chúng ta cần thận trọng và bám sát vào mục đích phục vụ độc giả của từng loại từ điển để xem xét, đánh giá thì mới thoả đáng. Để làm cơ sở cho việc xem xét vấn đề đang quan tâm, thiết nghĩ chúng ta cần chú ý mấy vấn đề sau:

Thứ nhất, từ điển phương ngữ trước hết là từ điển ngôn ngữ, mà loại sách này, nói như L. Zgusta, là “Các từ điển ngôn ngữ chủ yếu đề cập đến ngôn ngữ, tức là đề cập đến các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ và tất cả các đặc tính ngôn ngữ của chúng” [14, 246]. Theo đó, từ điển phương ngữ sẽ có nhiệm vụ chính là cung cấp các thông tin về từ ngữ, là các biến thể, nghĩa và cách dùng chúng trong các tiếng địa phương.

Thứ hai, về mặt lí thuyết, loại thông tin bách khoa này thường có mặt trong hầu hết các loại từ điển về ngôn ngữ. L. Zgusta khẳng định rằng, dù là từ điển một thứ tiếng hay hai (hoặc nhiều) thứ tiếng thì “trong hầu hết các từ điển đều có yếu tố bách khoa [14, 247],

Điều này lại phụ thuộc vào mục đích biên soạn sách của các tác giả, mà nói như tác giả trên, là “Một vài yếu tố bách khoa là không thể thiếu được (...) vì người biên soạn muốn công trình của ông ta có một đặc tính nào đó” [14, 247]. Chúng ta cũng rất khó phê phán này nọ nếu như tác giả sách muốn tỏ rõ ý định làm sách theo cách nào đó mà họ muốn.

Thứ ba, có một điều tuy khó thấy, nhưng dễ hiểu, đó là chỉ khi làm sách loại từ điển về một địa phương nào đó thì các yếu tố bách khoa này mới có điều kiện tốt để xuất hiện, với liều lượng và tỉ trọng đáng phải bàn. Chứ khi làm từ điển chung của một ngôn ngữ thì mâu thuẫn trên dường như ít có điều kiện thể hiện. Ví như ta làm từ điển giải thích tiếng Việt thì tên người, tên đất, tên lăng tẩm, chùa chiền, di tích lịch sử... ít hoặc về cơ bản là không có điều kiện xuất hiện. Để giải quyết tình trạng này, sách tra cứu về địa phương chia làm hai loại: một loại nghiêng về ngôn ngữ sẽ có tên là Từ điển tiếng X, loại kia nghiêng về lối làm bách khoa thì sẽ có tên là Từ điển bách khoa (về) X - (X là tên địa phương). Chính tự bản thân cái tên đã chỉ rõ mục đích cân đối các loại thông tin đang bàn thì người làm sách sẽ có điều kiện để hệ thống hoá các tri thức, cân nhắc để đưa vào công trình của họ các thông tin cần thiết.

Trong số các từ điển phương ngữ đã công bố, có hai quyển đưa các loại thông tin bách khoa đậm đặc hơn cả, đó là sách của các tác giả Bùi Minh Đức và Vương Hồng Sển. Ở đây chúng tôi thấy chỉ cần xem xét vấn đề qua Từ điển tiếng Huế của Bùi Minh Đức mà thôi.

2.2. Thông tin bách khoa về địa phương trong “Từ điển tiếng Huế”

1) Thông tin bách khoa qua cấu trúc vĩ mô

Bảng từ đầu mục trong quyển từ điển này là từ hoặc ngữ (xét theo đặc điểm cấu tạo), xếp theo trật tự ABC. Ngoài các đơn vị là từ hoặc ngữ thuộc tiếng địa phương Huế, chúng ta còn thấy rất nhiều các đơn vị danh xưng khác. Đó là:

a) Các địa danh. Địa danh gồm nhiều tiểu loại. Tên đất: là tên một số làng, xã, quận: Vĩ Dạ, Truồi, Chuồn, Sịa, Đất Mới, Đập Đá, Hải Vân, Lăng Cô, Gia Hội, Hương Trà, Ngự Bình, Cacciam (tên tỉnh Quảng Nam),...; là tên các công trình, như cung điện: Hòn Chén, Long An, Thái Hoà, Con Voi Ré, Cần Chánh, Phu Văn Lâu...; tên các phủ: Phủ Thừa Thiên, Phủ Tuy Lý, Phủ Ba Cửa,...; tên lăng tẩm: Lăng Gia Long, Lăng Khải Định, Khiêm Lăng (Lăng Tự Đức), Lăng Ba Vành,...; tên chùa: Chùa Thiên Mụ, Chùa Báo Quốc, Chùa Diệu Đế, Chùa Kim Tiên, Chùa Tra Am, Chùa Trúc Lâm, Chùa Từ Đàm, v.v.; tên đàn: Đàn Nam Giao, Đàn Nacrument aut Mort (Đài trận vong chiến sĩ), Kì Đài Huế,...; tên rạp hát: Rạp Bà Tuần, Rạp Đồng Xuân, Rạp Cine Richbard, Rạp Cine Morin, Rạp Cine Tân Tân, v.v.

b) Tên người hoặc tộc người: Gồm nhiều loại, chủ yếu là tên vua chúa, các danh nhân hoặc những người nổi tiếng. Tên vua hoặc dòng tôn thất: Gia Long, Bảo Đại, Nguyễn Uông, Ưng Bình Thúc Giạ, Ưng Quả, Bửu Hội,...; tên người: Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Thiết, Nguyễn Hưu Ba, Ngự Đạt, Tôn Thất Thuyết, Cao Văn Luận, Học Phi,...; tên dân tộc: người Hời (Chăm), người Lồi (Chăm), người Chàm (Chăm), Minh Hương (Hoa kiều), người Mọi, Tộc Cau Chăm pa, v.v.

c) Các món ăn: Phở Huế, cơm âm phủ, cơm tiến Huế, cơm chiên Huế, món ăn Huế, tôm rim Huế, bún Huế, bún luộc, bún bò Huế, bún bò giò heo, bún An Cựu, bún Mụ Rớt, bún Vân Cù, bún tươi, bánh đúc Huế, bánh canh Nam Phổ, bánh bèo Ngự Bình, bánh tráng Thủ Lệ, canh bầu, canh tập tàng, canh thập toàn, canh măng nấu với cá ngạnh nguồn, kẹo cau, kẹo gừng, kẹo gương, kẹo đậu phụng, mè xửng Đông Ba, mè xửng Huế, v.v.

d) Giọng ca, điện hát, bài thơ: ca Huế, bài chòi, bài vè, đế hệ thi, thơ Huế, thơ mụ Đội, vè mụ Đội, thơ Pháp Việt, vè cá sông Hương, vè thất thủ Kinh Đô, vè thất thủ Thuận An, v.v.

e) Quan chức, quân đội, cơ quan: quan chức quân đội triều Nguyễn, quan hoạn, quan phòng Kinh Lược, quan Tiễu, quan tướng, Quang lộc tự (coi sóc yến tiệc của vua), đội Thượng Thiện (cơ quan lo các bữa ăn cho vua), lính khố đỏ, lính khố vàng, lính khố xanh, lính Nam triều,...; các cơ quan: Viện Cơ mật, Viện Đãi lậu, Viện Đô sát, Viện Hàm, Viện Tập hiền, Viện Đại học Huế, Cơ mật viện, Tượng cục, Tam cung, v.v.

Trên đây chỉ là một số khảo sát, chắc là chưa đầy đủ. Trong số các mục từ trên, có nhiều đơn vị có thể đưa vào từ điển phương ngữ, như ở các mục c), d), e), nhưng khi liệt kê hệ thống, chúng tôi vẫn nêu ra để tham khảo.

2) Thông tin bách khoa qua cấu trúc vi mô

Có thể phân cấu trúc vi mô (cách thức thể hiện nội dung giải thích trong mục từ) của từ điển này thành hai loại. Một loại cơ bản dành cho lời giải thích từ ngữ địa phương như lệ thường, vẫn thấy ở các từ điển phương ngữ khác. Loại khác là những khảo tả công phu của tác giả dành cho các từ đầu mục mang tính chất bách khoa.

Để so sánh, chúng ta lấy hai từ đầu mục và lời định nghĩa, dẫn giải có trong sách này:

Kì đài (từ)

Nền cao để dựng cờ (Kì đài ở thành nội treo cờ côi cao, chỗ mô cũng thấy).

Kì đài Huế (tên di tích)

Xây năm 1809, gồm 3 tầng, có 8 nhà để súng và 2 điểm cánh, dùng để treo cờ hiệu khi triều hạ và mỗi ngày có quan dùng ống nhòm quan sát ngoài biển. Cột cờ bị phá gãy sập năm 1947, được xây lại năm 1948 do kĩ sư Lê Sĩ Ngọc, đầu ngành công chánh thời ấy. Hồi xưa, mỗi buổi trưa đều có tiếng súng nổ từ kì đài để báo hiệu cho dân chúng biết.

Tình hình nêu thông tin như trên là dễ hiểu, bởi một bên là từ của ngôn ngữ, một bên là tên di tích. Điều đáng chú ý là có những từ thường, nhưng nếu là đơn vị có thể mở rộng được “nét Huế” nào đó, tác giả không ngần ngại mở rộng. Ví dụ, từ điếu:

Điếu (ống điếu, điếu hút): điếu hút bằng nước hồi xưa có nhiều thứ: điếu cày, điếu ống, điếu bình (người Bắc gọi là điếu bát). Điếu cày là một ống tre, dài độ 30 - 40 cm, đường kính thường 5 - 7 cm, có mắt tre làm đáy, phía trong dùng đựng nước. Khoảng 1/3 giữa ống điếu có gắn xiên xiên một cái nồi “điếu” để đựng thuốc. Khi hút, khói thuốc phải qua lớp nước để lọc bớt chất nhựa. Tiếng kêu của nước khi hút rất đặc biệt. Gọi là “điếu cày” vì các bác nông phu thường đem điếu này ra đồng để hút mỗi khi tạm nghỉ. Điếu sang thì có “điếu ống” là điếu có khảm ngà hoặc xà cừ, có vẽ rồng vẽ phượng (...).

Chúng tôi chưa chép hết lời miêu tả trên. Những ghi chép như vậy thường là rất quý, khi được đặt đúng chỗ. Trong khi đó, Ngọ Môn là một di tích kiến trúc – lịch sử độc đáo trong kinh thành, chỉ được ghi lại có phần qua loa như sau: “Cửa chính vào Đại Nội, đối diện với Kì Đài, phía trước có hai nhà súng với 9 khẩu thần công. Nơi đây vua Bảo Đại đã thoái vị năm 1945 với câu nói lịch sử “Trẫm thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”. Nêu như vậy thì thiếu nhiều kiến thức về kiến trúc, xây dựng, về vị trí của Ngọ Môn trong cả hệ thống kinh thành (sách tái bản lần 3, 2009 cũng có đưa thêm chút ít thông tin).

3) Một vài suy nghĩ

- Có lẽ khi mới bắt đầu làm từ điển này, tác giả chủ yếu nghĩ đến làm từ điển ngôn ngữ (phương ngữ Huế), nên mới đặt tên sách như vậy. Trong Lời nói đầu, đặc biệt là ở mục “Đối tượng và mục đích biên soạn”, “phương pháp nghiên cứu”,... ông chỉ nói về tiếng Huế. Những ghi chép về “các yếu tố bách khoa” có lẽ cũng được ông chú ý từ đầu, nhưng có phần là thứ yếu, nên dễ bị tuỳ tiện, thiếu tính kế hoạch. Do vậy mà bên cạnh việc đưa các từ đầu mục Lăng Ba Vành, Lăng Cô, Lăng Gia Long... ta không thấy Lăng Minh Mạng, Lăng Tự Đức; bên cạnh từ lính (lính khố xanh, khố vàng) ta không thấy các từ cai, vệ, cơ, doanh, vốn là các từ chỉ quan chức quân đội triều Nguyễn. Và như đã thấy, ở phần giải thích, khảo tả, ghi chép thể hiện cả tính “ngẫu hứng” rất rõ.

- Khi đã làm từ điển về Thừa Thiên Huế, nếu có đưa các yếu tố bách khoa thì không nên nêu cả các thông tin về các miền, các tỉnh khác. Ví dụ, các tên Đồ Bà (Chà Bàn) ở Bình Định, Cacciam là tên ghi bằng tiếng Pháp tỉnh Quảng Nam, rồi di chỉ văn hoá Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), di chỉ Bàu Lát (Quảng Ngãi), hoặc những cái tên ít gắn với địa phương này, như Huyền Trân Công Chúa, Huỳnh Thúc Kháng, v.v. Cung cấp thông tin như thế này là vừa rất thừa lại cũng rất thiếu.

- Có lẽ phải đặt vấn đề một cách nghiêm túc rằng, trước khi làm từ điển, chúng ta phải tự vũ trang cho mình những kiến thức nhất định về từ điển học nói chung, về từ điển ngữ văn và từ điển bách khoa nói riêng. Khi đó, cách làm bảng từ, cách ghi chép và trình bày tư liệu ở phần giải thích sẽ được tiên lượng để hệ thống hoá kĩ hơn, về các loại thông tin, từ điển sẽ ít sai sót.

3. Kết luận

Khi đọc từ điển, các thông tin bách khoa về địa phương có sức hấp dẫn riêng. Cũng không ai cấm đoán được việc làm từ điển phương ngữ thì không nên đưa tri thức bách khoa. Vấn đề là, bên cạnh việc xác định tên sách là từ điển ngôn ngữ (phương ngữ) hay từ điển bách khoa về địa phương, chúng ta cần có định hướng rõ về mục đích và phương pháp biên soạn, để có sự hình dung trước một tỉ lệ hợp lí giữa thông tin ngôn ngữ và thông tin bách khoa trong quyển sách của mình. Và như vậy, trọng tâm thông tin của sách vừa không bị lệch, vừa có cơ hội đi sâu hơn vào những nội dung chính.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Văn Ái, Từ điển phương ngữ Nam Bộ, NXB TP Hồ Chí Minh, TP HCM, 1994.

[2] Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1994.

[3] Bùi Minh Đức, Từ điển tiếng Huế, NXB Tâm An (Mĩ), 2001 (in lần 1).

[4] Vũ Quang Hào, Kiểm kê từ điển học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

[5] Phạm Văn Hảo (chủ biên), Từ điển phương ngữ tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009.

[6] Đặng Thanh Hoà, Từ điển phương ngữ tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005.

[7] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, 2000.

[8] Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng Việt miền Nam, NXBVăn hoá, Hà Nội, 1993.

[9] Trần Hữu Thung, Thái Kim Đỉnh, Từ điển tiếng Nghệ, NXB Nghệ An, Nghệ An, 1997.

[10] Hồ Hải Thụy, Hai cuốn sách mới dạy cách làm từ điển, Ngôn ngữ & Đời sống, s. 6 (169), 2009.

[11] Huỳnh Công Tín, Từ điển từ ngữ Nam Bộ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.

[12] Hà Ngọc Trạc, Lịch sử – lí luận và thực tiễn biên soạn bách khoa toàn thư, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2004.

[13] Nguyễn Như Ý (chủ biên), Từ điển đối chiếu tiếng địa phương, NXB Giáo dục, 1994.

[14] Zgusta L., Giáo trình từ điển học, NXB Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc, Praha, 1971 (bản dịch tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, 1978).

[15] АН СССР, Лингвистический энциклопедический словарь, Изд. “Энциклопедия”, М.,1990.

SUMMARY

Dialectal dictionaries are, first of all, a type of linguistic (conceptional) dictionaries. Nonetheless, as resulted from their specific characteristics, dialectal dictionaries contain much encyclopedic knowledge. Hue Dialectal Dictionary, for example, holds considerable information about names of places, name of people or clans, foods, songs and singers, etc. According to the author, compilers of such dictionaries should be equipped themselves with knowledge relating to linguistic and encyclopedic dictionaries so as to be able to do well the preparing materials and compiling.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 04, năm 2010

 

 

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...