Đăng nhập

Trang nhấtBách khoa toàn thưMục từ trong Bách khoa thư văn hóa Việt Nam

Mục từ trong Bách khoa thư văn hóa Việt Nam

Thứ Ba, 24 Tháng 03 2020 12:16

PGS.TS TẠ VĂN THÔNG

1Trong những năm gần đây, việc biên soạn và công bố các công trình bách khoa (từ điển bách khoa, bách khoa thư, bách khoa toàn thư) về văn hoá ngày càng trở nên cần thiết. Điều này xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu, mở mang tri thức của các dân tộc trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá diễn ra mạnh mẽ hiện nay, cũng như nhu cầu hiểu biết về chính mình trong lòng tự hào và ý thức bảo tồn, phát triển những nét bản sắc riêng của cộng đồng.

Ở Việt Nam, những công trình bách khoa chuyên biệt về văn hoá Việt Nam như vậy không nhiều. Đó có thể là các tác phẩm cung cấp những tri thức đầy đủ về văn hoá Việt Nam hoặc văn hoá của các vùng miền, các dân tộc; hoặc có thể là các công trình về một hoặc một số thành tố văn hoá (phong tục tập quán; lễ hội; nghề thủ công; nghệ thuật trình diễn; nghệ thuật tạo hình; tín ngưỡng tôn giáo…). Bộ Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam (như trong đầu đề của bài viết này) cũng chỉ là một tác phẩm trong sự mong đợi của độc giả. Nhưng cần có một sự hình dung khái quát về nó và về cái “xương sống” của tác phẩm tương lai này: mục từ, tức là về cấu trúc vĩ mô (danh sách các mục từ được tuyển chọn theo những quy ước và sắp xếp theo một thứ tự nhất định, tạo thành một cấu trúc mang tính hệ thống trong một chỉnh thể công trình) và cấu trúc vi mô (cấu trúc thông tin mỗi đơn vị mục từ).

2. Đặc tính của mục từ trong Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam

2.1. Tính chất chung

Đối với Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam – một loại sách công cụ chuyên ngành dùng để tra cứu, cung cấp các tri thức cơ bản và nhiều mặt về văn hoá của một quốc gia, với đối tượng phần lớn có trình độ từ trung học phổ thông trở lên, các mục từ có những tính chất chung như sau:

● Mỗi mục từ được xác định trên cơ sở bảng mục phân loại từ chung gồm các lĩnh vực tri thức (hay chủ đề tri thức) thuộc văn hoá theo các tiêu chí phân loại nhất định;

● Mỗi mục từ được xem là một khái niệm hoàn chỉnh hoặc một tiểu chủ đề tri thức độc lập (còn gọi là đơn nguyên cơ bản – yếu tố đơn giản nhất, trọn vẹn, trong một chỉnh thể chung) về văn hoá;

● Nói chung, các tri thức được đề cập đến trong các mục từ phải căn cứ trên các tri thức về văn hoá Việt Nam đã được đa số thừa nhận hoặc đã được kiểm chứng;

● Các mục từ có nội dung tri thức và cách trình bày mang tính chất tương đối quy phạm – theo những thể lệ nhất định, về số lượng các mục từ trong mỗi lĩnh vực, về phạm vi tri thức, ngôn ngữ miêu tả, cách đặt tên đầu mục từ, sự thể hiện bằng hình ảnh, lối chuyển chú, cách phiên chuyển từ ngữ không phải gốc Việt và chính tả nói chung, cách ghi và thông tin về tài liệu tham khảo, cách trích dẫn;

● v.v.

2.2. Cơ sở thiết lập bảng mục từ

Bảng mục từ của Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam được thiết lập đồng thời trên những cơ sở sau:

● Dựa trên sự phân loại khoa học hiện đang phổ biến đối với cấu trúc, các hình thái và thành tố văn hoá Việt Nam. Từ sự phân loại này, có được bảng phân loại mục từ (gồm các chủ đề - lĩnh vực nhỏ hơn). Từ đó, tiến hành việc tuyển chọn các mục từ khác nhau, rồi dùng các từ hoặc cụm từ đặt tên (đặt đầu mục từ) cho các mục từ này;

● Dựa trên các cuốn từ điển đã có, đặc biệt các từ điển giải thích khái niệm (ví dụ Từ điển tiếng Việt phổ thông) và các từ điển bách khoa hoặc bách khoa thư có liên quan đến văn hoá trong và ngoài nước, tuyển chọn các mục từ có nội dung tri thức bách khoa về văn hoá Việt Nam;

● Dựa trên các ấn phẩm đã công bố và các nguồn tư liệu khác, xác định các mục từ ở các phần nói về hoặc có liên quan đến văn hoá Việt Nam.

2.3. Bảng phân loại mục từ trong Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam

Việc phân loại mục từ đem lại một cái nhìn tổng quan và có hệ thống về tri thức văn hoá được đề cập đến trong Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam, là cơ sở để hình dung cấu trúc vĩ mô của toàn công trình và mối quan hệ giữa các chủ đề lớn trong công trình. Kết quả của việc phân loại nói trên là Bảng phân loại mục từ, gồm có các chủ đề lớn theo phân loại khoa học, với các cấp bậc bên trong mỗi chủ đề (các tiểu chủ đề) theo cách từ rộng đến hẹp, từ khái quát đến cụ thể. Cuối cùng trong các cấp bậc nói trên là các mục từ (thuộc các loại khác nhau).

Bảng phân loại mục từ cho những người tổ chức biên soạn thấy khái quát được các lĩnh vực (chủ đề) tri thức về văn hoá Việt Nam được đề cập đến trong Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam và danh mục các loại mục từ.

Có thể hình dung các lĩnh vực tri thức chính về văn hoá Việt Nam sẽ được đề cập đến (dưới hình thức các mục từ) như sau:

● Khái quát về văn hoá trong văn hoá học (văn hoá học – với tư cách là “chuyên ngành học thuật”);

● Khái quát về các thành tố chính trong văn hoá (là đối tượng của những “phân ngành học thuật”): lễ hội, phong tục tập quán, sân khấu, nghề thủ công, ngôn ngữ, kiến trúc, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật âm thanh, văn chương, nhiếp ảnh, điện ảnh, lối sống...;

● Các khái niệm cơ bản trong văn hoá học: con người, văn minh, văn hiến, văn vật, vùng văn hoá, văn hoá vật thể và phi vật thể, di tích, danh lam thắng cảnh, diễn trình văn hoá, lễ hội, ẩm thực, biểu tượng, loại hình văn hoá, thiết chế văn hoá, không gian văn hoá…;

● Diễn trình lịch sử và các không gian văn hoá Việt Nam;

● Các sự kiện văn hoá đáng ghi nhớ ở Việt Nam;

● Các danh nhân văn hoá hoặc các nhân vật đáng chú ý có liên quan đến văn hoá Việt Nam;

● Các sự việc, hiện tượng, sự vật… nổi bật trong văn hoá Việt Nam (di tích, tác phẩm, di sản tinh thần…);

● v.v.

Có thể hình dung danh mục các loại mục từ chính trong Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam (trình bày các tri thức đã đề cập đến ở trên) như sau:

● Loại mục từ mang tính tổng hợp về văn hoá và các thành tố trong văn hoá Việt Nam. Đây được hình dung là loại mục từ dài hoặc rất dài (có thể được gọi là những bài viết khái quát hay tổng luận, về nhiều khía cạnh trong tri thức được đề cập đến trong các chủ đề);

● Loại mục từ về các khái niệm cơ bản trong văn hoá học;

● Loại mục từ về các sự kiện văn hoá đáng ghi nhớ đã diễn ra ở Việt Nam;

● Loại mục từ về các danh nhân văn hoá hoặc các nhân vật nổi bật có liên quan đến văn hoá Việt Nam;

● Loại mục từ về văn hoá vật thể truyền thống (di tích kiến trúc – nghệ thuật và lịch sử - văn hoá, khảo cổ; thư viện; bảo tàng; danh lam thắng cảnh…) ở Việt Nam;

● Loại mục từ về văn hoá phi vật thể truyền thống (lễ hội, làng nghề, văn nghệ dân gian, phong tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ…) ở Việt Nam;

● Loại mục từ về các ấn phẩm (sách, báo, tạp chí) về văn hoá và các tác phẩm tiêu biểu cho các lĩnh vực thuộc văn hoá Việt Nam hiện đại;

● v.v.

Mỗi loại mục từ đã nói ở trên, do tính đặc thù của các thông tin được đề cập đến của mỗi loại, cần được biên soạn theo những thể lệ (đề cương) riêng, nhằm đảm bảo tính chuẩn mực để dễ tra cứu, đảm bảo tính hoàn chỉnh của nội dung, đồng thời tránh được những sự trùng lặp hoặc thiếu nhất quán ở các mục từ.

Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam được biên soạn theo mô hình tổng hợp, theo các phân ngành (lĩnh vực) lớn, bên trong mỗi phân ngành là các mục từ sắp xếp theo trật tự chữ cái. Có thể mỗi phân ngành thành một quyển trong một bộ sách.

2.4. Kết cấu vi mô của mỗi mục từ

Trong Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam, mỗi mục từ hoàn chỉnh có kết cấu gồm các yếu tố (trình bày theo thứ tự) như sau:

- Tên đầu mục từ. Là yếu tố đại diện hoặc mang tính khái quát cho nội dung của khái niệm hoặc chủ đề tri thức được đề cập đến trong mục từ;

- Văn bài của mục từ (còn gọi là “bài mục”). Là yếu tố chính cung cấp thông tin trong mỗi mục từ. Có thể là: định nghĩa (giới thiệu chủ đề tri thức hoặc khái niệm); nguồn gốc mục từ (xuất xứ hình thành đầu mục từ); giới thiệu quá trình lịch sử hình thành (của khái niệm hoặc của chủ đề tri thức); những nội dung tri thức cơ bản được đề cập đến hoặc có liên quan đến chủ đề; những nội dung tham khảo (bên cạnh nội dung tri thức cơ bản nói trên); tranh ảnh, bản đồ minh hoạ (trong trường hợp cần thiết)… Ngoài ra, trong văn bài của mục từ lớn có thể trình bày khái quát các chủ đề nhỏ (cấu trúc thành các bậc) nhằm chi tiết hoá nội dung tri thức của chủ đề lớn, hoặc đề cập đến các tri thức có liên quan trực tiếp đến chủ đề lớn;

- Thư mục tham khảo (trong trường hợp cần thiết). Là yếu tố giúp độc giả hiểu xuất xứ (nguồn) của những tri thức đã trình bày trong mục từ, đồng thời giúp độc giả tìm hiểu kĩ hơn về chủ đề;

- Tên tác giả (theo quy định hoặc trong trường hợp cần thiết).

2.5. Đề cương biên soạn các mục từ

Nhìn chung, mỗi mục từ thường có ba phần: phần định nghĩa hoặc định tính; phần nội dung cơ bản, và phần tư liệu bổ sung.

2.5.1. Loại mục từ mang tính tổng hợp về văn hoá và các thành tố trong văn hoá Việt Nam:

(Đây được hình dung là các bài viết chiếm vị trí ưu tiên (không theo thứ tự chữ cái như đối với các mục từ khác), mà ở vị trí ngay sau tên chủ đề, với vai trò vừa mở đầu vừa làm tiền đề chung cho các mục từ khác trong chủ đề này).

Loại mục từ này được biên soạn theo đề cương:

- Định nghĩa và khái niệm cơ bản, vị trí của ngành học hoặc phân ngành trong hệ thống khoa học chung, mục đích và nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng chính, phương pháp nghiên cứu;

- Khởi nguồn, quá trình phát triển và hiện trạng của ngành hoặc phân ngành;

- Nội dung chủ yếu của ngành hoặc phân ngành (chi tiết hơn về phạm vi và đối tượng);

- Mối quan hệ với các ngành hoặc phân ngành gần gũi khác;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng;

- Những vấn đề đang đặt ra hiện nay. Yêu cầu và những triển vọng;

- Minh hoạ (bằng ngôn từ hoặc hình ảnh);

- Thư mục tham khảo.

2.5.2. Loại mục từ về các khái niệm trong văn hoá học

- Tên đầu mục từ: khái niệm;

- Định nghĩa theo cách tường giải khái niệm (có thể trình bày cả thuật ngữ quốc tế; những quan niệm khác nhau về khái niệm);

- Nội hàm và ngoại diên của khái niệm;

- Mối quan hệ với các khái niệm khác gần gũi (trong văn hoá học);

- Việc sử dụng khái niệm đang nói đến trong văn hoá học;

- Minh hoạ;

- Thư mục tham khảo.

2.5.3. Loại mục từ về các sự kiện văn hoá đáng ghi nhớ

- Tên đầu mục từ: sự kiện;

- Tính chất, thời gian và địa điểm phát sinh;

- Người hoặc tổ chức đã phát động sự kiện; những người tham gia chính;

- Bối cảnh lịch sử và quá trình xảy ra sự kiện;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng (trước đây, hiện nay);

- Minh hoạ;

- Thư mục tham khảo.

2.5.4. Loại mục từ về danh nhân văn hoá hoặc các nhân vật nổi bật có liên quan đến văn hoá Việt Nam

- Tên đầu mục từ: tên (hoặc các tên) của người được nói đến;

- Năm sinh, năm mất; nơi sinh, nơi mất;

- Giới thiệu tóm tắt về thân nhân;

- Thành tựu và cống hiến đối với văn hoá cộng đồng (có thể có sự đánh giá của người khác hoặc của người biên soạn);

- Các danh hiệu (nếu có);

- Ảnh (của người được nói đến), có thể những sáng tạo của người đó, hoặc những gì có liên quan;

- Thư mục tham khảo.

2.5.5. Loại mục từ về văn hoá vật thể (một số trường hợp tiêu biểu)

2.5.5.1. Di tích

- Tên đầu mục từ: tên di tích;

- Được Nhà nước hay tổ chức (quốc tế, trong nước) nào công nhận là di sản văn hoá, khi nào (nếu được công nhận);

- Phạm vi thời gian, không gian tồn tại;

- Miêu tả di tích;

- Sự phát sinh và quá trình biến đổi, phát triển của di tích;

- Mối quan hệ (nếu có) với các di sản văn hoá khác;

- Các ý kiến trước đây và hiện nay về di tích. Những vấn đề đặt ra và triển vọng;

- Lịch sử nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đặc thù đối với di tích;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng;

- Minh hoạ: ảnh di tích;

- Thư mục tham khảo.

2.5.5.2. Thư viện, bảo tàng, nhà xuất bản, tổ chức…

- Tên đầu mục từ: tên thư viện, bảo tàng, nhà xuất bản, tổ chức…;

- Trụ sở hiện nay; thời gian thành lập; sơ lược lịch sử từ khi thành lập; những người lãnh đạo chủ chốt;

- Tổ chức nội bộ và các hoạt động chính;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng;

- Minh hoạ;

- Thư mục tham khảo.

2.5.6. Loại mục từ về văn hoá phi vật thể (một số trường hợp tiêu biểu)

2.5.6.1. Lễ hội

- Tên đầu mục từ: tên lễ hội;

- Tính chất, thời gian và địa điểm phát sinh;

- Người hoặc tổ chức phát động lễ hội; những người tham gia chính;

- Miêu tả: lễ và hội trong lễ hội;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng (trước đây, hiện nay);

- Minh hoạ: ảnh lễ hội hoặc vật thể dùng trong lễ hội;

- Thư mục tham khảo.

2.5.6.2. Văn nghệ dân gian

- Tên đầu mục từ: tên hình thức văn nghệ dân gian;

- Tính chất, thời gian và địa điểm phát sinh;

- Người hoặc tổ chức thực hiện (hoặc tác giả); những người tham gia chính (hoặc biểu diễn);

- Miêu tả hình thức văn nghệ dân gian;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng;

- Minh hoạ;

- Thư mục tham khảo.

2.5.6.3. Tục lệ

- Tên đầu mục từ: tên tục lệ;

- Tính chất, thời gian và địa điểm phát sinh;

- Tên cộng đồng có tục lệ (những người đã và / hoặc đang làm theo tục lệ);

- Miêu tả tục lệ;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng;

- Minh hoạ;

- Thư mục tham khảo.

2.5.6.4. Ngành nghề truyền thống

- Tên đầu mục từ: tên ngành nghề;

- Tính chất, thời gian và địa điểm phát sinh;

- Tên cộng đồng có ngành nghề (những người đã, và, hoặc đang thực hiện ngành nghề);

- Miêu tả ngành nghề;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng;

- Minh hoạ;

- Thư mục tham khảo.

2.5.7. Loại mục từ về các ấn phẩm về văn hoá và các tác phẩm tiêu biểu cho các lĩnh vực thuộc văn hoá Việt Nam

- Tên đầu mục từ: tên ấn phẩm hoặc tác phẩm;

- Tác giả hoặc người biên soạn (tổng biên tập, chủ biên…), đạo diễn…;

- Tính chất, thời gian và địa điểm đã công bố;

- Bối cảnh công bố;

- Nội dung cơ bản và khuynh hướng nghệ thuật;

- Tác dụng và ảnh hưởng đối với văn hoá cộng đồng;

- Minh hoạ;

- Thư mục tham khảo.

3. Sự hình dung về bộ Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam, một công trình đòi hỏi phải có kiến thức rất phong phú và đa dạng, phải có sự phối hợp chặt chẽ các phương pháp biên soạn liên ngành trên cơ sở tích hợp thành tựu của rất nhiều ngành khoa học.

Tuy nhiên, thiết nghĩ nó vẫn cần thiết, đặc biệt trong thực tế ở Việt Nam hiện nay, với một số công trình bách khoa về văn hoá đã xuất bản hoặc đang biên soạn, hoặc một số mục từ về văn hoá trong các công trình bách khoa không phải mang tính chất chuyên ngành (Chẳng hạn các Dư địa chí của các địa phương, Từ điển Bách khoa Việt Nam…), thường không đẳng cấu và không đồng đều về nội dung tri thức, trong cùng một quyển và so các quyển với nhau. Điều đó có thể gây không ít khó khăn cho độc giả và có thể cả người biên soạn. Bài viết này hi vọng hướng tới sự thống nhất tương đối trong các tác phẩm này. Và một bộ Bách khoa thư Văn hoá Việt Nam, với những vấn đề phải suy nghĩ và thảo luận kĩ hơn về nó, cần được xem là mục tiêu trong tương lai gần.

THƯ MỤC THAM KHẢO

[1] Trần Ngọc Bảo (2005), Từ điển ngôn ngữ - văn hoá – du lịch Huế xưa, NXB Thuận Hoá, Huế.

[2] Bộ Văn hoá và Thông tin (2000), Bách khoa tri thức phổ thông, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

[3] Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hoá Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[4] Hội đồng Quốc gia Chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995, 2002, 2003, 2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam (4 tập), NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

[5] Vũ Ngọc Khánh (2005), Từ điển Việt Nam: văn hoá, tín ngưỡng, phong tục, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

[6] Hữu Ngọc (chủ biên) (1995), Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội.

[7] Hoàng Quyết, Triều Ân, Hoàng Đức Toàn (1996), Từ điển văn hoá cổ truyền dân tộc Tày, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.

[8] Nguyễn Kim Thản (2009), “Bách khoa thư: Nguồn gốc và phân loại”, Từ điển học & Bách khoa thư, s. 1 (9-2009).

[9] Uỷ ban Nhân dân TP Hà Nội (1999), Bách khoa thư Hà Nội, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

[10] Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2004), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

[11] Viện Ngôn ngữ học (1997), Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[12] Советский энциклопедический словарь, Изд. "Энциклопедия", Москва, 1986.

SUMMARY

Compiling and publishing encyclopedic works (encyclopedic dictionaries, encyclopedias) in Vietnam are becoming more and more essential. To put this into good practice, however, a proper theoretical base and working method should be clearly defined. The author analyzes the features of entries in the Vietnamese Cultural Encyclopedia (which is intended to be compiled) and gives out proposals in connection with the basis for building up vocabulary, classification of entries, microstructure of each entry, etc. for the expected compilation.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, số 03, năm 2010

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...