Đăng nhập

Trang nhấtTừ điển họcMục từ tiêu điểm: Giáo sư Hoàng Phê và Từ điển tiếng việt

CHU BÍCH THU

Cho đến nay, Từ điển học Việt Nam đã có một truyền thống khá dày dặn. Đã có một số công trình tổng kết tương đối đầy đủ cả về lí thuyết và thực hành [x. 4]. Cũng như các lĩnh vực khoa học khác, Từ điển học Việt Nam có những điểm mốc đánh dấu những chuyển biến vượt bậc, ghi nhận một giai đoạn phát triển mới của mình. Một trong những điểm mốc quan trọng của Từ điển học Việt Nam hiện đại mà chúng tôi muốn nói đến là cuốn Từ điển tiếng Việt do cố Giáo sư Hoàng Phê (1919-2005) chủ biên1.

Sau một thời gian công bố và sử dụng, có thể nói, cuốn Từ điển Hoàng Phê được coi là có uy tín hơn cả trong giai đoạn hiện nay. Quyển từ điển được biên soạn dưới sự chỉ đạo của GS Hoàng Phê, một người nghiên cứu từ vựng - ngữ nghĩa có uy tín, từ khi bắt đầu thu thập tư liệu (năm 1960) đến khi hoàn thành (năm 1988), sửa chữa có bổ sung năm 1992 và năm 2000. Đây là “quyển từ điển đầu tiên ở nước ta do một tập thể cán bộ ngôn ngữ học biên soạn trên cơ sở tư liệu tương đối đầy đủ. Nó có tác dụng thiết thực đối với việc chuẩn hoá và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Đây là quyển sách cần thiết cho những người muốn tìm hiểu, học tập, trau dồi tiếng Việt” (trích Lời giới thiệu của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng [x.10]). Nhiều vấn đề lí thuyết chung như vấn đề chuẩn ngôn ngữ, chuẩn chính tả, quan niệm về đơn vị từ vựng và những thao tác phân định, mô tả chúng, những phương pháp phân tích ngữ nghĩa, v.v. đã được áp dụng nhất quán, triệt để trong từ điển. Quyển từ điển này đã vừa tiếp thu kinh nghiệm của từ điển học Việt Nam trước đây, vừa cố gắng xây dựng một cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô hợp lí, phong phú và khoa học hơn.

Một số luận điểm chính về mặt lí thuyết được rút ra từ cuốn từ điển này là:

 1. Nghĩa từ được giải thích trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa, mà “... một sự phân tích ngữ nghĩa toàn diện không thể dừng lại ở bình diện hệ thống - cấu trúc, bình diện ngôn ngữ (hiểu theo nghĩa hẹp, đối lập với lời nói), tuy rằng sự phân tích này là một bước cực kì quan trọng, mà phải được tiến hành cả ở bình diện chức năng, bình diện sử dụng, lời nói” [x. 7]. Trên cấp độ lời nói, cấu trúc ngữ nghĩa của lời là một cấu trúc nhiều tầng, gồm có tiền giả định, hiển ngôn, hàm ngôn; trong hàm ngôn lại có hàm ý và ngụ ý. Một cuốn từ điển tích cực phải giúp người dùng không những hiểu được từ ngữ mà còn biết cách vận dụng được chúng trong giao tiếp, nhất là đối với người học tiếng Việt như một ngoại ngữ. Vì vậy, một cuốn từ điển tiếng Việt tốt cần phản ánh được những cấu trúc nhiều tầng của hệ thống tiếng Việt. Từ đó đi đến một cách miêu tả các đơn vị từ vựng mang tính “động” hơn.

TĐ học truyền thống coi các đơn vị từ điển là các đơn vị tách rời khỏi ngữ cảnh và “khô cứng”, miêu tả nghĩa từ dưới dạng tĩnh và tách biệt. Vì vậy người dùng chỉ có thể đọc và hiểu được từng từ một cách thụ động. Điều này thể hiện ở chỗ các TĐ biên soạn theo lối cũ chỉ ra nghiã từ nhưng không chỉ dẫn được cách sử dụng chúng trong ngữ lưu. Nói cách khác, đó là kiểu từ điển thụ động. Từ điển Hoàng Phê miêu tả nghĩa từ ở trạng thái hành chức, tức là chú ý đến hoạt động của từ trong phát ngôn. Vì vậy, khi miêu tả nghĩa từ, ngoài ý nghĩa, người làm từ điển còn chú ý đến từ loại (phản ánh chức năng của từ trong câu), đến phạm vi sử dụng, sắc thái lịch sử, phong cách,... (phản ánh chức năng giao tiếp trong xã hội của từ ngữ),... Tức là từ điển giải thích không chỉ giải thích ý nghĩa từ vựng của từ mà còn phải tích hợp được các thông tin đa dạng về đơn vị đó, giúp cho người đọc không chỉ hiểu mà còn tái lập được cách sử dụng từ ngữ trong các tình huống cụ thể. Nói cách khác, đây là cuốn từ điển tích cực. Có lẽ đây là sự khác biệt cơ bản giữa cách giải nghĩa theo kinh nghiệm và cách giải nghĩa một cách khoa học, khách quan của cuốn TĐ tiếng Việt mà chúng ta đang nói tới.

 2. Phương pháp biên soạn từ điển Hoàng Phê thông qua việc giải thích nghĩa và cách dùng của từng từ ngữ để miêu tả được toàn bộ tính hệ thống của một ngôn ngữ. Nghĩa từ vựng được phân tích thành một cấu trúc bao gồm những nét nghĩa có quan hệ cấp bậc với nhau, và có khả năng hiện thực hoá trong những ngữ cảnh cụ thể. Từ đó có thể rút ra những mô hình khái quát về các loại cấu trúc nghĩa từ vựng trong tiếng Việt. Và các từ ngữ có cùng cấu trúc ngữ nghĩa được định nghĩa theo cùng một kiểu. Theo phương pháp này, người biên soạn TĐ làm việc trên cơ sở áp dụng các phương pháp ngôn ngữ học kết hợp với kiến thức chung về từ ngữ và hệ thống từ vựng của ngôn ngữ. Điều này đòi hỏi người biên soạn TĐ, ngoài tri thức bách khoa còn phải có tri thức ngôn ngữ học lí thuyết và thực hành về ngôn ngữ mà mình định miêu tả. Thực chất đây là cách tiếp cận các đơn vị từ vựng theo quan điểm toàn diện, cụ thể – một cách tiếp cận cơ bản của từ điển học hệ thống [x. 8]2.

Có thể cuốn từ điển được biên soạn theo phương pháp mới này còn những mặt nào đó chưa phản ánh hết những ý đồ (trên lí thuyết) của các tác giả, nhưng nó đã mở đầu cho một giai đoạn mới, là nhịp cầu nối lí thuyết về từ điển với việc thực hành biên soạn TĐ ở nước ta.

Về mặt thực tiễn biên soạn, TĐ Hoàng Phê có những bước tiến đáng kể.

Theo xu hướng ngày càng coi trọng vai trò của tư liệu thực tế trong việc lựa chọn, giải thích từ ngữ, đưa ví dụ, TĐ Hoàng Phê được biên soạn trên khoảng 3 triệu phiếu tư liệu từ sách báo của các thời kì lịch sử khác nhau, được thu thập trong hơn 20 năm; việc sửa chữa và bổ sung được tiến hành trên cơ sở hơn 32 nghìn phiếu trích dẫn từ sách báo trong khoảng 15 năm (1985-2000). Càng có số lượng dữ liệu lớn, đa dạng, phong phú, từ điển càng khắc phục được nhược điểm “kinh niên” của mình là thường lạc hậu hơn đời sống thực có của vốn từ vựng của một ngôn ngữ. Với khối ngữ liệu đồ sộ và cách làm việc khoa học, nghiêm túc, các tác giả đã xử lí từ đồng âm, đa nghĩa hợp lí, đầy đủ và chính xác. Và đặc biệt, các ví dụ trong cuốn TĐ Hoàng Phê rất phong phú, đa dạng, chuẩn mực và mang tính điển hình cao.

Tích hợp thông tin là đưa các thông tin một cách có chủ ý, có tổ chức để làm thành một cuốn từ điển có cấu trúc rõ ràng và nhất quán. Việc tích hợp thông tin được thực hiện qua hai “thao tác”. Thứ nhất, tăng thêm lượng thông tin bằng cách tăng số lượng các yếu tố diễn đạt hình thức. Chẳng hạn, đưa thêm vào cấu trúc vi mô những yếu tố như từ loại, đồng/trái nghĩa, các chú giải về cách dùng,… Và thứ hai, tăng lượng thông tin mà không tăng các yếu tố diễn đạt hình thức. Chẳng hạn, lồng các thông tin mang tính chất lịch sử, văn hoá, các lớp ngữ nghĩa, sử dụng…vào bản thân lời định nghĩa.

Cuốn TĐ Hoàng Phê đã làm được như vậy, nó là sự thể nghiệm, là cái gạch nối trong suốt 20 năm của chủ trương kết hợp nghiên cứu với biên soạn (nghiên cứu từ vựng ngữ nghĩa – biên soạn từ điển các loại) ở Viện Ngôn ngữ học trước đây và ở Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam hiện nay.

Nói đến Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, chúng ta không thể không nói đến GS Hoàng Phê, chủ biên - linh hồn của cuốn sách, cũng là linh hồn của từ điển học Việt Nam một thời.

Vào tuổi bốn mươi hơn, Hoàng Phê mới chuyển sang làm công tác nghiên cứu khoa học, bắt đầu là ở Viện Văn học. Khi Viện Ngôn ngữ học thành lập (1969) ông sang làm ngôn ngữ học, tại Ban Từ vựng – Từ điển học. Ông bắt tay vào nghiên cứu ngôn ngữ học ở lĩnh vực khó và mới nhất. Khi tìm hiểu công việc, ông luôn đón đầu, tìm hiểu, áp dụng những gì theo ông là mới mẻ, thời sự nhất.

Chúng tôi chỉ xin nêu ra một vài đóng góp của ông vào ngành Từ điển học Việt Nam trong giai đoạn ông còn làm việc ở Viện Ngôn ngữ học trước khi nghỉ hưu.

Việc đầu tiên và có giá trị nhất ông làm cho ngành Từ vựng – Từ điển học Việt Nam là xây dựng một kho dữ liệu tiếng Việt. Từ những văn bản tiếng Việt từ cổ chí kim: Hồng Đức Quốc Âm thi tập, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm,…đến các tác giả, tác phẩm cận đại, hiện đại thời chống Pháp, chống Mĩ, các tác phẩm của Hồ Chí Minh; các thể loại văn học từ thơ ca đến tiểu thuyết, truyên dịch, báo chí, chính luận, thậm chí cả văn bản công báo, pháp luật, thuật ngữ chuyên ngành,…Tất cả đều được hoặc đưa toàn bộ hoặc trích dẫn có chọn lọc dưới dạng phiếu rời để đưa vào kho dữ liệu. Việc làm này không phải ai cũng hiểu và thấy hết được giá trị sử dụng của nó trong việc nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt là từ vựng ngữ nghĩa học và biên soạn từ điển ở Việt Nam. Đến những năm 2000, khi mà lí thuyết về ngôn ngữ học ngữ liệu (Corpus Linguistics) được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, người ta mới thấy giá trị sự “tiên phong”, biết “nhìn xa trông rộng” trong công việc của ông. Vào những năm 60 của thế kỉ trước, trên thế giới cũng mới bắt đầu hình thành ngành khoa học này (x. 5).

Việc thứ hai ông để lại dấu ấn cho Từ điển học Việt Nam là giới thiệu và ứng dụng những tư tưởng cơ bản của Từ điển học hệ thống vào việc biên soạn cuốn từ điển tiếng Việt mà chúng tôi đã nhắc đến ở phần trên ngay từ những ngày đầu hình thành tư tưởng của xu hướng này. Nói tới đây, tôi cũng không thể không nhắc đến nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dương, cộng sự đắc lực của ông những năm 1970-1975. Với vốn tiếng Nga vững chắc và kiến thức sâu rộng, ông đã giúp dịch, giới thiệu và hướng dẫn các các bộ trẻ của Ban Từ vựng - Từ điển của Viện Ngôn ngữ học lúc bấy giờ tiếp xúc và ứng dụng những thành tựu ngôn ngữ học, đặc biệt là từ vựng - ngữ nghĩa và từ điển học của nền ngôn ngữ học Nga - Xô viết vào việc nghiên cứu tiếng Việt và biên soạn từ điển giải thích tiếng Việt. Ngay từ lúc đó, các quan điểm lí thuyết này chỉ mới là những ý tưởng có tính chất thực nghiệm nhiều hơn là sử dụng trong thực tế (như đã được nhà ngôn ngữ học Nga V. M. Alpatov nhận xét trong lời giới thiệu cuốn “Từ điển lí tưởng” của tác giả người Nhật T. Kunihiro [x. 9, tr.10]). Tuy nhiên GS Hoàng Phê đã mạnh dạn ứng dụng nó trong thực tiễn biên soạn từ điển tiếng Việt và đã đạt được những thành công nhất định.

Nhờ những nền tảng ban đầu này mà phòng Từ điển học của Viện Ngôn ngữ học những năm sau đó luôn đi đúng hướng và cập nhật được những thông tin mới nhất trên thế giới về lĩnh vực của mình. Có thể nói, GS Hoàng Phê là người định hướng về mặt lí luận và thực tiễn cho Từ điển học Việt Nam giai đoạn này.

GS Hoàng Phê còn là người tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc nghiên cứu và biên soạn từ điển. Sáng lập ra Trung tâm Từ điển học, ngay từ những ngày đầu, khi vốn liếng còn rất eo hẹp, ông đã mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin. Những ý tưởng chỉ đạo về mặt khoa học của ông luôn hướng đến việc áp dụng những tiến bộ mới nhất vào hoạt động nghiên cứu và biên soạn. Chúng tôi, những học trò của ông, không kể đang làm việc ở đâu, đều chịu ảnh hưởng từ những ý tưởng này. Chúng tôi đã xây dựng một ngân hàng dữ liệu trên máy tính, xây dựng những phần mềm biên soạn từ điển và tiếp tục những hướng nghiên cứu từ vựng ngữ nghĩa được ông định hướng, đồng thời phát triển để chúng ngày càng hiện đại hơn, theo kịp những xu hướng phát triển của từ điển học thế giới (x.3 & 11).

*

Việc đánh giá một cuốn từ điển nào đó tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Mỗi loại, mỗi cuốn từ điển có mục đích, có đối tượng phục vụ riêng, vì vậy việc đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu và đối tượng phục vụ của nó. Song điều dễ thấy là không có một cuốn từ điển nào được coi là “toàn bích”. Bởi lẽ người làm từ điển phải xử lí từng trường hợp cụ thể, và thường là trong thời gian dài hoặc nhiều người cùng xử lí, để thống nhất được những nguyên tắc chung là đã khó, để xử lí hàng vạn, hàng chục vạn những đơn vị theo những nguyên tắc chung ấy một cách nhất quán lại càng khó hơn. Hơn nữa, ngôn ngữ giống như một thực thể sống, luôn biến đổi, luôn phát triển, việc nắm bắt quy luật và phản ánh chúng vào từ điển không phải lúc nào cũng thành công. Mặt khác, từ điển bao giờ cũng thường lạc hậu hơn thực tế sử dụng ngôn ngữ. Là những người đã và đang trực tiếp biên soạn và nghiên cứu về từ điển, hơn ai hết, chúng tôi thấu hiểu những nỗi “cực khổ” của người làm từ điển thực sự. Bởi vậy, mỗi cuốn từ điển được soạn ra, xét về mặt nào đó, đều đáng được trân trọng. Quyền phán xét tối thượng về chất lượng là ở người sử dụng. Và cũng như các tác phẩm khoa học khác, giá trị đích thực của công trình sẽ tồn tại với thời gian.

Từ điển Hoàng Phê đã làm được điều đó. Năm 2005, cuốn TĐ này đã vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ. Nhưng điều quan trọng hơn cả là cả trên lí thuyết và cả trong thực tế sử dụng, nó đã được độc giả đón nhận và giá trị thực sự của nó đã được khẳng định trong hơn hai mươi năm qua.

Nhân kỉ niệm 5 năm ngày mất của GS Hoàng Phê (2005-2010), chúng tôi muốn một lần nữa khẳng định những đóng góp của ông đối với lĩnh vực Từ điển học ở Việt Nam và cụ thể là cuốn Từ điển tiếng Việt đã và vẫn đang được sử dụng hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Rey - Debove J, Etude linguistique et semiotique des dictionnaires francais contemporains. La Haye., 1971. (bản dịch của Viện Ngôn ngữ học).

[2] Zgusta L., Mannual of Lexicography. The Hague-Pragua, 1971. (bản dịch của Viện Ngôn ngữ học).

[3] Zgusta L., Từ điển học của thế kỉ XXI, trong tập “The Fist Asia International Lexicography Conference”, Philippines 1992, tr. 3-12 (bản dịch của Phòng Từ điển, Viện Ngôn ngữ học).

[4] Chu Bích Thu, Giới thiệu sơ lược về từ điển và từ điển học Việt Nam, Ngôn ngữ, s. 14, 2001, tr. 12 – 26.

[5] Douglas Biber, Susan Conrad và Randi Reppen, Corpus Linguistics – Ngữ liệu khối ngữ ngôn học, Ngoại ngữ dạy học và nghiên cứu xuất bản xã - Thanh Kiều (Cambridge) Đại học Xuất bản xã, Bắc Kinh, 2000.

[6] T. Kunihiro, Từ điển giải thích lí tưởng, URSS, M., 2009 (Bản tiếng Nga Идельный толковый словарь, dịch từ tiếng Nhật của A. S. Panina).

[7] Hoàng Phê, Phân tích ngữ nghĩa, Ngôn ngữ, s. 2, 1975, tr. 10-26.

[8] Jurij Apresjan, Từ điển học hệ thống, do Brigid Maher – Trường ĐHQG Australia tóm tắt, đăng trên Journal of Linguistics s. 38 (3-2002), tr. 173-174. [theo bản dịch của Phạm Hiển].

[9] Nhiều tác giả, Một số vấn đề từ điển học, NXB Khoa học xã hội, H.,1996.

[10] Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, H., 1988, tái bản có sửa chữa bổ sung 1992, 1994,1995,1996,1997, 1998, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học tái bản có sửa chữa bổ sung , 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006.

[11] Báo cáo nghiệm thu công trình cấp Nhà nước “Xây dựng luận cứ khoa học cho việc biên soạn bộ Từ điển tiếng Việt cỡ lớn”, Viện Ngôn ngữ học, 2002.

SUMMARY

Lexicography of Vietnam has covered a long path and recorded some certain achievements. One of the important datum points of the modern Lexicography of Vietnam was the appearance of the Vietnamese Dictionary (1988) which has been greatly appreciated by the public. To achieve this, one cannot go without mentioning the great contributions made by Prof. Hoàng Phê (on the aspects of theory, method and way to organize in a scientific, reasonable and up-to-date manner) in administering a contingent of lexicographers at the Linguistic Institute (in the ‘60s of the 20th century). The article succeeds in outlining the scientific career of Hoàng Phê in the realm of lexicography.

Kì sau: NGÔN NGỮ HỌC KHỐI LIỆU (CORPUS)


* TS Ngữ văn, Nguyên cán bộ Viện Ngôn ngữ học.

1 Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1988, tái bản có sửa chữa bổ sung 1992, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học tái bản có sửa chữa bổ sung , 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006. Từ đây, chúng tôi gọi tắt là TĐ Hoàng Phê.

2 Ju. Apresjan, tác giả cuốn Từ điển học hệ thống, đó khẳng định rằng chỉ có được cuốn từ điển tốt khi có được lí thuyết ngôn ngữ học tốt; và rằng những phát triển về mặt lí thuyết gần đây đóng vai trò quan yếu trong việc thực hiện các kĩ năng thực hành biên soạn từ điển. Cũng theo tác giả, cho đến nay có 4 khuynh hướng trong lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại liên quan trực tiếp tới từ điển học hệ thống (Apresjan, 2000). Đó là:

1) Việc tìm kiếm bức tranh (ngôn ngữ) ngây thơ về thế giới, hay là các khuôn khái niệm hóa nằm trong nghĩa từ vựng và ngữ pháp của từng ngôn ngữ nhất định;

2) Bước đột phá vào đại phức hệ ngôn ngữ (linguistic macrocosm) được phản ánh vào việc chuyển hướng từ nghiên cứu các từ rời sang việc nghiên cứu các kiểu loại trong từ điển học cơ bản. Chẳng hạn, một nhóm các từ vị có chung một hay nhiều thuộc tính, không nhất thiết là thuộc tính ngữ nghĩa, cùng chịu sự chi phối của các quy tắc ngôn ngữ nào đó thì chúng phải được miêu tả một cách nhất quán trong từ điển;

3) Bước đột phá vào đại phức hệ ngôn ngữ được phản ánh vào việc chuyển sang ‘chân dung từ điển học’ - những nghiên cứu tỉ mỉ về tất cả các khía cạnh ngôn ngữ học có liên quan tới nghĩa của từ rời;

4) Sự đồng quy (convergence) trong các nghiên cứu ngữ pháp học và từ vựng học đó dẫn tới thuyết miêu tả ngôn ngữ theo hướng thống nhất và tích hợp.

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Tìm hiểu cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển thuật ngữ chuyên ngành Tiếng việt

Tìm hiểu cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển thuật ngữ chuyên ngành Tiếng việt

Tìm hiểu cấu trúc vĩ mô và vi mô của từ điển thuật ngữ chuyên ngành Tiếng việt...

TỪ NGỮ CHỈ MÙI VỊ TRONG TRUYỆN KIỀU

TỪ NGỮ CHỈ MÙI VỊ TRONG TRUYỆN KIỀU

TỪ NGỮ CHỈ MÙI VỊ TRONG TRUYỆN KIỀU...

Mục từ tiêu điểm: Giáo sư Hoàng Phê và Từ điển tiếng việt

Mục từ tiêu điểm: Giáo sư Hoàng Phê và Từ điển tiếng việt

Mục từ tiêu điểm: Giáo sư Hoàng Phê và Từ điển tiếng việt...

LOẠI HÌNH TỪ ĐIỂN ONLINE Ở VIỆT NAM  THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG

LOẠI HÌNH TỪ ĐIỂN ONLINE Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG

LOẠI HÌNH TỪ ĐIỂN ONLINE Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG...

Từ điển học về việc bảo tồn, phát triển ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong ở Việt Nam

Từ điển học về việc bảo tồn, phát triển ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong ở Việt Nam

Từ điển học về việc bảo tồn, phát triển ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong ở Việt Nam...

Bổ nhiệm Tổng biên tập Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư

Bổ nhiệm Tổng biên tập Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư

Bổ nhiệm Tổng biên tập Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư...