Đăng nhập

Trang nhấtTừ điển họcMột số vấn đề cơ bản về phương pháp luận Biên soạn Từ điển Thuật ngữ

PGS.TS HÀ QUANG NĂNG

LTS. Biên soạn, xuất bản các từ điển thuật ngữ đang là nhu cầu cần thiết trong xu thế phát triển mạnh mẽ của tất cả các ngành khoa học trên thế giới. Điều này cũng hết sức cấp thiết đối với nước ta hiện nay. Tuy nhiên, muốn làm tốt công việc này, chúng ta phải xây dựng được nền tảng lí luận, phương pháp luận vững vàng, bài bản về thuật ngữ học. Bài viết của tác giả Hà Quang Năng nằm trong loạt bài mở màn cho những vấn đề đó. Do dung lượng của bài khá dài, chúng tôi xin phép đựơc trích đăng trong 2 kì.

1. Dẫn nhập

Từ điển thuật ngữ là một bộ phận của phân ngành từ điển học, đó là khoa học và thực tiễn biên soạn từ điển. Theo đó, từ điển thuật ngữ là khoa học và thực tiễn xây dựng các từ điển chuyên ngành (loại từ điển bao gồm các từ ngữ chuyên môn mà người ta thường gọi bằng một cái tên chung là từ điển thuật ngữ). Có thể hiểu từ điển chuyên ngành là cẩm nang chứa đựng những miêu tả lớp từ vựng chuyên ngành của một hoặc một số ngôn ngữ.

Về phương diện lí luận, từ điển học có nhiệm vụ xây dựng những nguyên tắc và phương pháp biên soạn từ điển, trong đó nhiệm vụ cơ bản của từ điển học là xác định, phân loại các loại từ điển, xây dựng cấu trúc mục từ và biên soạn từ điển. Trong lĩnh vực thuật ngữ học, nhiệm vụ của từ điển thuật ngữ là xây dựng phương pháp và những thủ pháp cụ thể để biên soạn từ điển chuyên ngành, trong đó nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng nguyên tắc về cách phân loại và loại hình các từ điển thuật ngữ, xây dựng các nguyên tắc lựa chọn các từ ngữ chuyên môn cho từng kiểu loại từ điển thuật ngữ riêng biệt, cũng như xây dựng những nguyên tắc thống nhất để miêu tả hiệu quả nhất (giải thích, chuyển dịch) và định nghĩa các từ thuật ngữ trong từ điển chuyên ngành.

Như đã biết, từ điển học có mối quan hệ chặt chẽ với từ vựng học, cho nên từ điển học đã sử dụng rất nhiều kết quả nghiên cứu của từ vựng học. Ngược lại, những kết quả nghiên cứu và biên soạn của từ điển học lại trở thành tiền đề vật chất cho việc giải quyết những vấn đề của từ vựng học. Trong lĩnh vực thuật ngữ học, giữa thuật ngữ học với từ điển thuật ngữ cũng có mối quan hệ khăng khít như vậy. Nhiều vấn đề được các nhà thuật ngữ học nghiên cứu nảy sinh trong thực tiễn của công tác biên soạn từ điển thuật ngữ. Và việc giải quyêt những vấn đề đó lại ảnh hưởng đến phương pháp biên soạn từ điển. Trong khi đó, việc nghiên cứu bất kì lĩnh vực nào của từ vựng chuyên ngành đều có liên quan chặt chẽ đến từ điển thuật ngữ. Chẳng hạn, chỉ một vấn đề cụ thể là lựa chọn, phân chia các kiểu từ điển và xác định ý nghĩa của các đơn vị từ vựng chuyên ngành đều được nghiên cứu trong thuật ngữ học cũng như trong từ điển học thuật ngữ.

Một trong những hướng cơ bản của các công trình thuật ngữ học là kiểm kê thuật ngữ, tức là thu thập và miêu tả tất cả các thuật ngữ của một phạm vi tri thức nhất định. Như vậy, từ điển các đơn vị chuyên ngành là kết quả, là sản phẩm thực tế của tất cả các hoạt động có liên quan đến thuật ngữ học.

Là một phần của từ điển học, từ điển thuật ngữ luôn gắn bó chặt chẽ với thuật ngữ học. Vì vậy, những vấn đề như hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa, nhiều nghĩa của thuật ngữ, vấn đề xác định ý nghĩa của thuật ngữ, vấn đề lựa chọn các đơn vị tương đương và chuyển dịch các thuật ngữ nước ngoài cũng phải được giải quyết trong phạm vi của thuật ngữ học. Nhiều nhà thuật ngữ học cho rằng thuật ngữ học là cơ sở lí thuyết của từ điển thuật ngữ, thậm chí coi từ điển học thuật ngữ như là bộ phận của thuật ngữ học. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, nhiều nhà thuật ngữ học coi từ điển thuật ngữ là một lĩnh vực độc lập nằm giáp ranh giữa từ điển học và thuật ngữ học.

Các nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng, có nhiều tiền đề lí luận để khẳng định tính chất giáp ranh của từ điển thuật ngữ. Đó là:

● Sự xuất hiện khái niệm tham số từ điển học trong quá trình nghiên cứu liên quan đến việc biên soạn các loại từ điển khác nhau;

● Nhu cầu của xã hội đối với các công trình từ điển thuật ngữ thuộc các loại khác nhau (như từ điển giải thích, từ điển đối chiếu, từ điển thông tin,…);

● Coi từ điển thuật ngữ như là một loại từ điển riêng;

● Tự động hoá của các công trình từ điển thuật ngữ và những vẫn đề liên quan đến việc xây dựng những từ điển tự động hoá và ngân hàng dữ liệu thuật ngữ.

[Гринев-Гриневич 2009: 9]

Liên quan với những tiền đề nêu trên là sự phát triển các lí thuyết hiện đại về thuật ngữ học đang trở thành những hướng cơ bản. Đó là các hướng sau đây:

● Xác lập những cách phân loại rõ ràng cho các từ điển chuyên ngành;

● Thống kê các tham số của từ điển thuật ngữ;

● Phân tích những ảnh hưởng của phương pháp biên soạn từ điển, tìm hiểu các tham số của từng loại từ điển xác định chất lượng và đặc điểm của các công trình từ điển cụ thể;

● Nghiên cứu đặc điểm bố cục của từ điển chuyên ngành;

● Nghiên cứu những cách thức lựa chọn và tổ chức các thông tin thuật ngữ học trong phạm vi của từ điển, cũng như những phương thức thu thập bằng máy tính các dữ liệu về từ điển học và thuật ngữ học.

Hiện nay, từ điển ngày càng đóng vai trò to lớn trong đời sống của con người. Nhờ có từ điển, con người sử dụng các ngôn ngữ khác nhau có thể thông báo cho nhau. Đồng thời từ điển còn là phương tiện nghiên cứu tiếng mẹ đẻ và các ngoại ngữ, giúp con người mở rộng vốn tri thức. Ở nước ta cũng như trên thế giới, hàng năm xuất hiện một số lượng lớn các công trình từ điển nói chung, từ điển thuật ngữ nói riêng. Những cuốn từ điển thuật ngữ thường do những nhà chuyên môn biên soạn, mà họ lại không có được một sự chuẩn bị gì trong lĩnh vực từ điển học. Trong khi đó, những cơ sở lí thuyết hiện hành về từ điển học lại chỉ được áp dụng vào một vài loại từ điển cụ thể, và có tính chất lẻ tẻ, rời rạc. Điều đó dẫn đến tình trạng không thống nhất trong phương pháp tổ chức và biên soạn từ điển, không thống nhất trong cấu trúc của từ điển.

Tình trạng trên có nguyên nhân của nó. Đó là do sự thiếu hiểu biết về cơ sở lí thuyết của từ điển thuật ngữ. Việc nghiên cứu về các loại từ điển thuật ngữ chưa được hoàn thiện, sự thiếu vắng những tiêu chuẩn chung về đánh giá, lựa chọn, sắp xếp trong từ điển những thông tin về từ vựng chuyên ngành đó. Theo các nhà chuyên môn, trong lĩnh vực từ điển thuật ngữ, còn tồn tại phổ biến những vấn đề sau đây:

● Cố gắng hợp nhất trong một quyển từ điển một số chức năng nên đã tạo ra những khó khăn lớn cho các tác giả biên soạn, gây nên những lúng túng cho người sử dụng từ điển;

● Tính chủ quan và tính ngẫu nhiên trong việc lựa chọn thuật ngữ cho từ điển. Kết quả là trong cấu trúc vĩ mô của từ điển thuật ngữ bị thiếu nhiều những thuật ngữ quan trọng và cần thiết, đồng thời lại có nhiều những đơn vị từ ngữ không liên quan đến thuật ngữ, nhiều thuật ngữ được lựa chọn ngẫu nhiên trong lĩnh vực tri thức chuyên ngành đó;

● Sự không tương thích giữa nội dung và tổ chức thông tin của từ điển;

● Thiếu tính thống nhất về cấu trúc và nội dung trong các cuốn từ điển cùng kiểu loại với nhau;

● Sự bất lợi của nguyên tắc sắp xếp mục từ theo thứ tự chữ cái các đơn vị từ ngữ trong từ điển nhằm làm sáng rõ những liên hệ giữa các khái niệm, trong việc tra cứu những từ ngữ cần thiết theo những đặc trưng ngữ nghĩa và tính chính xác của việc lựa chọn từ ngữ để tạo thành tri thức hệ thống về các khái niệm, các thuật ngữ trong từ điển;

● Thiếu hàng loạt các chỉ dẫn trong từ điển;

● Thiếu tính hệ thống trong việc lựa chọn, phân tích và miêu tả các thuật ngữ trong từ điển;

● Thiếu chính xác trong việc chỉ ra những đặc điểm về hình thái và cấu tạo các thuật ngữ được đưa vào mục từ trong từ điển;

● Thiếu chính xác và không rõ ràng trong việc miêu tả ngữ nghĩa các thuật ngữ, đặc biệt là đối với các thuật ngữ có nhiều ý nghĩa trong các công trình từ điển chuyên ngành hiện đại;

● Chưa hoàn thiện cách thức thể hiện các tổ hợp thuật ngữ trong từ điển;

● Định nghĩa chưa thật tốt các ý nghĩa của thuật ngữ trong nhiều cuốn từ điển thuật ngữ hiện hành. Điều này thể hiện ở chỗ giữa các nghĩa của thuật ngữ không có được mối liên hệ theo logic cần thiết. Thiếu tính tương hợp giữa các thuật ngữ đã xác định của tiếng mẹ đẻ ngay trong phạm vi của một cuốn từ điển; thiếu sự tương ứng giữa các định nghĩa thuật ngữ và các ý nghĩa mà thuật ngữ được sử dụng trong các mục từ khác nhau của cùng một cuốn từ điển. Thiếu sự tương ứng trong định nghĩa của cùng một thuật ngữ trong các quyển từ điển chuyên ngành kiểu loại khác nhau;

● Thiếu nhất quán trong cách tổ chức bên trong của một mục từ và trong cách chú giải, trong trích dẫn.

Những bất cập trên đây về tình trạng không thống nhất về nguyên tắc xây dựng và biên soạn từ điển thuật ngữ đã làm hao hụt những thông tin trong từ điển, làm giảm đi hiệu quả của việc sử dụng từ điển, đồng thời không đem lại khả năng đánh giá khách quan các từ điển.

Việc xây dựng các loại hình từ điển phải đặt trên cơ sở các đặc tính từ điển học nhất định, phải dựa vào các tham số dùng làm cơ sở để phân loại, miêu tả và đánh giá từ điển, cũng như lập kế hoạch biên soạn chúng. Trong từ điển học đại cương người ta đã nêu các tham số để phân chia các loại từ điển.. Chẳng hạn, L.V. Sherba đã phân chia từ điển dựa vào các tham số như chuẩn mực, tính triệt để trong cách miêu tả vốn từ vựng của ngôn ngữ, nguyên tắc sắp xếp các mục từ (theo trật tự hệ thống chữ cái hay theo ý niệm), tên gọi của từ điển (từ điển giải thích hay từ diển đối chiếu), sự định hướng theo thời gian (từ điển lịch sử hay từ điển không có tính lịch sử) [Щерба Л. В. 1974]. L. Zgusta đã bổ sung thêm vào các tham số này một số tham số khác như những chỉ dẫn trong phạm vi cụ thể của từ ngữ được định nghĩa (chẳng hạn, từ điển phương ngữ, từ nghề nghiệp, từ điển tiếng lóng) những chỉ dẫn về nguồn ngữ liệu nhất định (lựa chọn các đơn vị miêu tả và cấp độ miêu tả (từ điển từ viết tắt, từ điển thành ngữ, tục ngữ, từ điển chính tả, ...), khối lượng của từ điển [Zgusta L.1971].

Gần đây, khuynh hướng phân chia các loại từ điển dựa trên các tham số từ điển trên cơ sở thông tin có trong từ điển và cách thể hiện các thông tin trong từ điển được chú trọng nhiều. Theo đó, ở dạng chung nhất tham só từ điển học được hiểu là cách thức giải thích từ điểnvà xây dựng cấu trúc của từ điển theo mục đích sử dụng từ điển [Караулов Ю. Н. 1982]. V.Ju. Gorodeckij đã tổng kết và đưa ra các tham số dưới đây:

1. Đặc điểm hình thái và ngữ nghĩa của các đơn vị miêu tả;

2. Sự lựa chọn các bình diện cần kiểm tra về mặt ngữ nghĩa của ngôn ngữ (chẳng hạn, bình diện từ vựng - ngữ nghĩa hay hình thái – cú pháp);

3. Đặc điểm chuẩn miêu tả của thông tin;

4. Thời kì (tính theo thời gian) được miêu tả;

5. Sự lựa chọn ngôn ngữ toàn dân hay chỉ một tiểu ngôn ngữ nhất định để miêu tả thuật ngữ (đặc điểm về xã hội hay lãnh thổ);

6. Mức độ bao phủ vốn từ vựng;

7. Thông tin về ngữ pháp;

8. Hệ thống các chú thích về tu từ;

9. Kiểu tường giải;

10. Có đưa thông tin bách khoa hay không;

11. Ở một chừng mực nhất định, có tính đến các quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị miêu tả hay không;

12. Ở một mức độ nhất định phải chỉ rõ những mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị đã miêu tả;

13. Những thông tin về ngữ cảnh của đơn vị miêu tả;

14. Những thông tin về nguồn gốc (hoặc lịch sử phát triển) của đơn vị miêu tả;

15. Đặc điểm về lượng các đơn vị miêu tả và ý nghĩa của chúng có hấp dẫn, cuốn hút người sử dụng không;

16. Trật tự sắp xếp các đơn vị trong từ điển (theo nguyên tắc hình thái hay ngữ nghĩa);

17. Có những chỉ dẫn cần ghi nhớ không;

18. Sự so sánh cội nguồn các đơn vị miêu tả và ý nghĩa của chúng với những đơn vị tương tự trong ngôn ngữ mẹ đẻ;

19. Sự có mặt của những tri thức siêu ngôn ngữ;

20. Sự so sánh loại hình với các đơn vị tương đương trong tiếng mẹ đẻ.

[Городецкий Б. Ю. 1983]

Có tác giả còn nêu ra nhiều tham số nữa khi xây dựng và biên soạn các loại từ điển. Chẳng hạn, Ju. N. Karaulov đã nêu ra 68 tham số [Караулов Ю. Н. 1982]. Tuy nhiên, để đánh giá và miêu tả các loại từ điển khác nhau, cần phải điều tra một cách tỉ mỉ, kĩ càng các tham số từ điển học có thể có.

Với các từ điển chuyên ngành có thể coi những đặc điểm cấu tạo và việc lựa chọn các yêu tố thông tin trong từ điển là tham số quan trọng hàng đầu. Có thể hiểu cấu trúc từ điển là sự lựa chọn các mục từ và việc sắp xếp các phần cơ bản và cần ghi nhớ của từ điển, là cách sắp xếp, bố trí và trình bày các mục từ cho phép tác giả từ điển tổ chức thực hiện việc biên soạn theo đúng kế hoạch, ý đồ đã vạch ra.

Để thuận tiện cho việc đánh giá và miêu tả các thành phần trong cấu trúc từ điển người ta đã chia cấu trúc từ điển ra làm hai nhóm tham số - nhóm các tham số liên quan đến cấu trúc vĩ mô và nhóm các tham số liên quan đến cấu trúc vi mô của từ điển. Việc phân chia như vậy được đặt trên cơ sở của những khác biệt giữa hai loại cấu trúc này. Cấu trúc vĩ mô của từ điển thường liên quan đến những vấn đề cấu tạo chung của từ điển và việc xác định đặc điểm thể hiện hàng loạt các đơn vị từ vựng trong từ điển. Cấu trúc vi mô của từ điển lại liên quan đến những vấn đề về hình thức của các mục từ và đặc điểm các thông tin được cung cấp để làm đầy mục từ.

Từ những điểu trình bày trên có thể thấy rằng hiện nay có nhiều lí do để coi từ điển thuật ngữ như là một ngành độc lập có đối tượng nghiên cứu riêng của mình – đó là các từ điển từ ngữ chuyên ngành, có phương pháp, cách thức của mình – đó là những quy định về nguyên tắc xây dựng và đánh giá các từ điển chuyên ngành, đó là những phương pháp riêng để phân tích hệ thống và miêu tả các từ ngữ chuyên môn trong các loại từ điển khác nhau.

2. Cấu tạo của từ điển chuyên ngành

Cấu tạo của từ điển chuyên ngành là sự lựa chọn các thành phần và sắp xếp những phần cơ bản và phần bổ sung, là việc xác định trật tự thể hiện các đơn vị miêu tả, là sự bố trí sự làm đầy và sắp đặt mục từ cho phép tác giả từ điển thấy được những dạng thông tin khác nhau về từ ngữ chuyên môn được lựa chọn phù hợp với ý đồ biên soạn của mình.

Nhiều nhà nghiên cứu phân biệt trong từ điển hai dạng văn bản – văn bản vĩ mô, nghĩa là từ điển phải được xem như một chỉnh thể thống nhất, và văn bản vi mô, nghĩa là từng mục từ trong từ điển. Tương ứng với điều này, người ta đã phân biệt hai loại cấu trúc: cấu trúc vĩ môcấu trúc vi mô.

Cấu trú vĩ mô là cấu trúc của cuốn từ điển và những cách thể hiện các đơn vị từ vựng trong từ điển. Cấu trúc vi mô là các mục từ của từ điển và cách làm đầy các loại thông tin khác nhau trong từng mục từ. Mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố riêng biệt của cấu trúc vĩ mô được thể hiện ở chỗ những thông tin bổ sung trong từ điển có thể được mở rộng rất nhiều và ngưởi ta có thể bổ sung những thông tin chứa đựng trong những dấu hiệu chỉ dẫn. Trong nhiều trường hợp, những thông tin này lại là những yếu tố có giá trị của từ điển (ví dụ, những chỉ dẫn về bảng chữ cái trong các từ điển ý niệm). Phần Dẫn nhập chứa đựng các quy tắc sử dụng từ điển, cũng là phần cần thiết vì thiếu nó không thể sử dụng từ điển một cách hiệu quả. Lời nói đầu cũng là phần quan trọng để biết được ý đồ của tác giả từ điển, giúp người sử dụng hiểu rõ quan điểm của tác giả hoặc cách thức miêu tả thuật ngữ của tác giả.

Cấu tạo của những chỉ dẫn cơ bản trong từ điển - phải bảo đảm tính nhất quán nghiêm ngặt của các mục từ. Mục từ trong từ điển luôn phụ thuộc vào các kiểu từ điển và không thể thay đổi. Cả trong từ điển xếp theo trật tự chữ cái lẫn trong từ điển sắp xếp theo chủ đề, tính nhất quán của các mục từ luôn có tính logic, theo một trật tự nhất định.

Sự khác biệt có tính nguyên tắc giữa cấu trúc từ điển với cấu trúc của tất cả các văn bản khác là ở chỗ chất liệu trong văn bản từ điển được tổ chức ở cấp độ các đơn vị riêng biệt, liên hệ với nhau bằng những quan hệ nhất định. Văn bản từ điển có thể được thể hiện dưới dạng hệ thống có điều chỉnh, có sắp xếp hợp lí...

Đặc điểm cấu tạo của từ điển có thể được sáng tỏ khi đối chiếu với các kiểu từ điển khác là chỉ hạn định việc miêu tả đặc điểm hệ thống thuật ngữ. Những quan hệ của hệ thống ngôn ngữ là thuộc tính vốn có của tất cả các đơn vị từ vựng cũng có thể được thể hiện trong hệ thống từ vựng thuật ngữ. Trong hệ thống này toàn bộ các thuật ngữ lại xác định phạm vi tri thức thể hiện trong hệ thống thuật ngữ đó. Mối quan hệ tương hỗ này của các thuật ngữ được thể hiện cả trong từ điển, ở đó mối liên hệ giữa thuật ngữ với phạm vi ngữ nghĩa của nó được thể hiện một cách rõ ràng nhờ các trích dẫn và các chú dẫn. Như vậy, trong từ điển thuật ngữ luôn luôn có mặt các liên hệ được coi là một trong những thuộc tính cơ bản của văn bản từ điển.

2.1. Cấu trúc vĩ mô của từ điển chuyên ngành

Những vấn đề như cấu tạo từ điển nói chung, nguyên tắc thể hiện các đơn vị từ vựng, xác định các thành phần cơ bản của từ điển, cách thức thể hiện các đơn vị gồm nhiều từ (các tổ hợp từ có tính thuật ngữ), các đơn vị nhiều nghĩa, các đơn vị đồng âm là những vấn đề thuộc phạm vi cấu trúc vĩ mô của từ điển. Trong cấu trúc vĩ mô cần giải quyết một số vấn đề sau đây:

Trật tự sắp xếp các mục từ có thể theo hình thức hoặc theo chủ đề. Trật tự mục từ sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái là trật tự phổ biến nhất trong các nguyên tắc sắp xếp các đơn vị từ vựng trong từ điển. Trật tự này có thể liên tục nối tiếp nhau, khi mỗi đơn vị từ vựng được miêu tả trong từ điển là một mục từ, và tất cả các mục từ của từ điển đều được sắp xếp theo trật tự chữ cái. Mục từ trong từ điển cũng có thể được sắp xếp theo hệ thống họ từ (thường chỉ rõ ràng trong các ngôn ngữ Ấn - Âu), khi mỗi mục từ có thể liên kết các thông tin về các đơn vị từ vựng có mối quan hệ với nhau. Trật tự mục từ theo chữ cái là rất cần thiết nhất là cần thông báo cho độc giả những thông tin về những đơn vị từ vựng ít gặp đối với họ. Vì vậy trật tự này luôn luôn là trật tự cơ bản trong từ điển đối chiếu và trong hầu hết các từ điển cẩm nang.

Một dạng đặc biệt của từ điển sắp xếp theo chữ cái là từ điển ngược, ở đó các đơn vị từ vựng được sắp xếp theo trật tự chữ cái ở cuối từ. Cách sắp xếp thông dụng trong từ điển học nói chung, nhưng cũng có thể phù hợp với từ điển thuật ngữ, chẳng hạn trong cách trình bày những đặc trưng ngữ pháp của một lĩnh vực từ vựng chuyên môn nhất định. Với nguyên tắc họ từ thì cách sắp xếp thuật ngữ dựa vào sự liên kết các đặc trưng cấu tạo từ (đặc trưng hình thái với cú pháp) và đặc trưng từ vựng (ngữ nghĩa). Với các đặc trưng từ vựng thì những quan hệ giữa các khái niệm do từ biểu thị là cơ sở thống nhất vào một họ từ.

Nguyên tắc họ từ cho phép tập hợp vào một vị trí và thể hiện một cách rõ ràng hệ thống cấu tạo từ và hệ thống ngữ nghĩa của thuật ngữ. Nhờ đó, cơ sở ngữ nghĩa chung của các thuật ngữ được làm sáng tỏ, những mối liên hệ giữa các khái niệm được bộc lộ rõ hơn, những bộ phận chung về cấu tạo từ, về từ nguyên của thuật ngữ được biểu hiện rõ ràng hơn.

Cũng cần nói đến nguyên tắc phân bố theo văn bản các đơn vị từ vựng trong từ điển (theo trật tự các đơn vị từ điển xuất hiện lần lượt trong văn bản). Nguyên tắc này được áp dụng trong những trường hợp khi từ điển là phụ lục của văn bản. Ví dụ, trong một số từ điển cổ ngữ hay bảng chú giải các từ điển thuật ngữ thuộc chuyên ngành hẹp.

Trong số các từ điển theo chủ đề (còn gọi là từ điển ý niệm) người ta có thể chia ra một số loại.

Loại thứ nhất là từ điển chủ đề bảng chữ cái. Ở loại từ điển này người ta áp dụng phương thức kết hợp để đưa các từ ngữ vào bảng từ sắp xếp theo hình thức. Các từ có quan hệ với nhau được sắp xếp thống nhất vào các nhóm ý niệm. Các nhóm này lại có quan hệ với những từ trung tâm nhất định. Vị trí của các từ trung tâm trong từ điển bắt buộc phải được sắp xếp theo bảng chữ cái.

Loại thứ hai là các từ điển ý niệm (thesaurus). Đó là loại từ điển mà các từ được phân bố theo các trường ngữ nghĩa. Chúng có thể là những trường liên tưởng, nghĩa là được sắp xếp vào các nhóm theo chủ đề dựa trên các quan hệ liên tưởng cơ bản giữa các thuật ngữ biểu thị các khái niệm và được phân chia theo những liên hệ cấp bậc giữa các khái niệm. Cả hai dạng thesaurus đều rất phổ biến trong từ điển thuật ngữ và được sử dụng dưới dạng các từ điển giáo khoa, từ điển chuẩn và từ điển thông tin, trong đó từ điển thông tin là phổ biến nhất. Chẳng hạn “Thesaurus các thuật ngữ khoa học – kĩ thuật” của Mĩ, “Thesaurus các thuật ngữ khoa học – kĩ thuật” xuất bản ở Liên Xô. Cả hai nguyên tắc có thể được sử dụng trong các từ điển miêu tả cùng một lớp từ vựng. Ví dụ, “Thesaurus về ngành xây dựng của Đức” được cấu tạo trên cơ sở nguyên tắc liên tưởng, còn thesaurus về ngành xây dựng của Anh, Canada, Liên Xô lại được xây dựng trên nguyên tắc cấp bậc, nghĩa là bên trong các nhóm chủ đề tất cả các thuật ngữ đều liên hệ với nhau theo cấp bậc.

Một vấn đề liên quan đến cấu trúc vĩ mô của từ điển là lựa chọn cách thức thể hiện các đơn vị từ vựng nhiều từ (tổ hợp từ thuật ngữ). Đây là vấn đề quan trọng vì việc giải quyết vấn đề này không được đề cập đến ở cấu tạo các mục từ. Trong từ điển, vấn đề nên hay không nên để các thuật ngữ - tổ hợp từ (cụm từ) thành một mục từ riêng hay đưa chúng vào trong khuôn khổ mục từ có thuật ngữ làm hạt nhân luôn luôn là vấn đề làm đau đầu các nhà từ điển học.

Theo Zgusta, các đơn vị từ vựng nhiều từ rất thường gặp. Chúng mang ý nghĩa từ vựng với tính cách hoàn chỉnh (như những đơn vị), về mặt này chúng hoạt động trong câu giống như các đơn vị từ vựng chỉ gồm có một từ. Thuộc về loại này có rất nhiều thuật ngữ, ví dụ tiếng Anh sea acorn (con hà), sea anemone (hải quỳ), sea angle (cá đuối lưỡi cày), sea arow (con mực ma)…

Chúng ta phải phát hiện một đơn vị từ vựng nhiều từ như thế nào? Có những tiêu chuẩn sau đây cần phải lưu ý:

1. Không thể dùng phép thay thế trong một đơn vị từ vựng nhiều từ trong một tập hợp nói chung. Khi chào hỏi, ta không thể nói Excellent day thay cho Good day! Có thể nói về một fat pig, hoặc về một dirty pig (lợn bẩn) đó là ta vẫn nói đến một con lợn, có những tính chất khác nhau. Nhưng nếu ta thay đổi cái gì đó trong guines pig *lợn Ghine – Chuột lang, thì ắt hẳn là phải thay đổi đề tài của câu chuyện. Phép “trắc nghiệm bằng giao hoán” này có lẽ là tiêu chuẩn quan trọng nhất cho một đơn vị từ vựng nhiều từ.

Đôi khi, một kết hợp tự do có cùng hình thức như đơn vị từ vựng nhiều từ. Điều này cũng dễ chứng minh bằng cách phân biệt các kết hợp tự do cold feet (chân lạnh) (ở đây có thể thay thế bất kỳ như weet feet (chân ướt), hurt feet (chân đau)) với các đơn vị từ vựng nhiều từ cold feet (sợ, run) trong câu: He will not do it, he’s got cold feet (Nó sẽ không làm việc ấy, nó run rồi, hoảng rồi). Ở đây không thể thay thế cái gì mà lại không làm thay đổi ý nghĩa bao trùm của thành ngữ ấy.

2. Không thể thêm cái gì đó vào các kết hợp tập hợp. Chẳng hạn như đơn vị từ vựng nhiều từ black market (chợ đen), có thể được coi là cái tương ứng có tính chất tập hợp của cái kết hợp tự do illegal market (chợ, thị trường bất hợp pháp). Tuy vẫn có thểnói illegal steel market (thị trường thép bất hợp pháp), song chỉ có một cách diễn đạt ý đó bằng kết hợp tập hợp black market in steel (buôn bán thép chợ đen).

3. Ý nghĩa của toàn kết hợp không thể được phái sinh đầy đủ từ ý nghĩa của các bộ phận đơn.

4. Một bộ phận hợp thành của một kết hợp tập hợp chỉ có thể được giới hạn một cách nghiêm ngặt hoặc chỉ đi với một kết hợp ấy. Ví dụ, trong tiếng Anh, maid (cô gái chưa chồng) trong old maid (gái già, bà cô).

5. Đơn vị từ vựng nhiều từ có thể là một từ đồng nghĩa hoặc một từ rất gần đồng nghĩa chỉ gồm một từ.

6. Một nhóm nhỏ những từ ngữ có liên hệ về ngữ nghĩa có thể tỏ ra có địa vị tương tự hoặc đồng nhất giữa các đơn vị từ vựng nhiều từ và các từ đơn.

7. Một cái tương ứng một từ trong một ngoại ngữ có thể gợi cho ta là có thể có một đơn vị từ vựng nhiều từ. Ví dụ, tiếng Nga коза = tiếng Anh goat (dê); tiếng Nga дикий = tiếng Anh wild (dại), nhưng tiếng Nga дикая коза = tiếng Anh roe (hoẵng).

8. Các đơn vị từ vựng nhiều từ thì đôi khi quả là có những đặc tính hình thức và ngữ pháp đặc biệt thật. Chẳng hạn, trong những kết hợp tập hợp tiếng Anh at hand (ngay gần, sắp đến).

9. Đơn vị từ vựng nhiều từ phải thực hiện trong một câu và trong từ vựng, trong vốn từ của ngôn ngữ cùng một chức năng cú pháp và tên gọi như một đơn vị đơn giản hơn về mặt từ pháp thường trùng với từ.

Trong các tiêu chuẩn nêu trên, theo Zgusta, tiêu chuẩn thứ chín cũng khái quát như tiêu chuẩn thứ nhất: hình như chính hai tiêu chuẩn này là cách phân chia căn bản dựa vào đó mà tách ra được các đơn vị từ vựng nhiều từ [Zgusta L. 1978: 174-185].

Ngoài những từ ngữ tập hợp có tính chất thành ngữ còn có những đơn vị từ vựng nhiều từ và những kết hợp từ tương tự. Thường gặp nhất là những kết hợp có tính chất thuật ngữ gần đạt tới địa vị của những đơn vị từ vựng nhiều từ. Mặc dù Zgusta đã đưa ra 9 tiêu chuẩn để xác định đơn vị từ vựng nhiều từ, song trên thực tế không phải bao giờ cũng đã quyết định thế nào là không phải. Vì mục đích từ điển, nhà từ điển học cũng có thể gặp phải những trường hợp như tiếng Anh heavy water (nước nặng), black market (chợ đen). Nhà từ điển học cần tránh một quyết định lập lờ. Một giải pháp rất thường gặp là nhà từ điển học không xếp chúng thành những mục từ riêng. Mặt khác, trong khi thêm chúng vào những ví dụ về các kết hợp tự do, anh ta xử lí chúng như mục nhỏ trong mục từ (với hình thức trình bày bằng kiểu chữ riêng) và miêu tả ý nghĩa từ vựng của chúng bằng các biện pháp thông thường. Tuy nhiên, đối với nhà từ điển thuật ngữ, do đặc thù riêng, các đơn vị từ vựng nhiều từ là thuật ngữ biểu thị các khái niệm khoa học, nên các đơn vị này thường có số lượng lớn, tần số sử dụng cao, nên chúng phải được xếp thành những mục từ riêng trong từ điển thuật ngữ và miêu tả ý nghĩa của chúng. Casares cũng cho rằng đơn vị từ vựng nhiều từ (tổ hợp kết hợp) có tính chất thuật ngữ kiểu như sea anemone (hải quỳ) cần được đưa thành những mục từ của từ điển thuật ngữ. Còn những tổ hợp có ý nghĩa liên hệ với yếu tố hạt nhân, ví dụ Adam’s apple (quả táo của Adam) thì trong bảng chỉ dẫn chữ cái cần để thành mục từ riêng biệt theo từ thứ nhất kết hợp với sự chú giải tương ứng trong mục từ của thuật ngữ hạt nhân [Casares 1958].

Vấn đề xử lí các thuật ngữ đa nghĩa (và đồng âm), cũng như vấn đề thuật ngữ nhiều từ cần được giải quyết trong cấu trúc vĩ mô của từ điển, bởi vì việc giải quyết vấn đề này không thể thu hẹp trong khuôn khổ các vấn đề của mục từ. Việc sắp xếp các từ ngữ trong từ điển những thuật ngữ như vậy có thể nằm trong một mục từ hoặc có thể được chia thành các mục từ riêng. Chẳng hạn trong các từ điển ý niệm, từ nhiều nghĩa, theo quy tắc, sẽ được xếp vào các phần chủ đề khác nhau, còn trong từ điển theo bảng chữ cái thì chỉ nằm ở một mục từ.

Việc giải quyết vấn đề này có liên hệ rất chặt chẽ với việc giải quyết vấn đề đồng âm và đa nghĩa trong thuật ngữ học. Vấn đề này đã được giải quyết theo cách: hai thuật ngữ mà hình thức của chúng trùng nhau thì coi chúng là những thuật ngữ đồng âm, vì chúng biểu thị những khái niệm khác nhau và vì thế chúng có ý nghĩa khác nhau. Ngoài ra, trong trường hợp sử dụng một hình thức từ vựng ở các hệ thống thuật ngữ khác nhau thì hiện tượng đồng âm phức tạp cũng sẽ không nảy sinh. Nhưng nhiều khi một hình thức lại được sử dụng trong những ý nghĩa khác nhau trong cùng một hệ thống thuật ngữ, ví dụ tên gọi quá trình và kết quả của quá trình đó. Vì vậy người ta phải xử lí dứt khoát, coi sự trùng nhau về hình thức khi các ý nghĩa khác nhau trong khuôn khổ của một hệ thống thuật ngữ là các thuật ngữ đa nghĩa, còn trong các hệ thống thuật ngữ khác nhau là thuật ngữ đồng âm.

Trong các từ điển giải thích thuật ngữ, từ điển đối chiếu, từ điển giáo khoa sử dụng cách sắp xếp các mục từ theo bảng chữ cái người ta thường có xu hướng giải thích tất cả những thuật ngữ có nghĩa liên hệ với nhau nhưng trùng nhau về hình thức như là những ý nghĩa riêng của các thuật ngữ nhiều nghĩa. Tuy nhiên, không thể không viện dẫn câu nói của L.V. Sherba: “Thực tế chúng ta có bao nhiêu từ thì có ngần ấy từ ngữ âm có các ý nghĩa” [Щерба Л. В. 1974]. Điều đó càng đúng hơn đối với thuật ngữ. Bởi vì các thuật ngữ khác về ý nghĩa cần phải được xử lí rõ ràng trong từ điển xem chúng là những mục từ riêng vì điều đó sẽ nâng cao tính hiệu quả của việc sr dụng từ điển và hạn chế những sai lầm khi sử dụng chúng.

2.2 Cấu trúc vi mô của từ điển chuyên ngành

Vấn đề cấu trúc vi mô của từ điển chuyên ngành là vấn đề lựa chọn và tổ chức các đơn vị từ điển cho từng mục từ. Toàn bộ các mục từ là thông tin về các đơn vị từ vựng có mặt trong từ điển. Trong từ điển thuật ngữ, các mục từ được thể hiện bằng các tham số, các thông tin giải thích mục từ thuật ngữ đó. Còn các từ điển đối chiếu, từ điển giáo khoa và các từ điển thông tin mục từ được xây dựng trên cơ sở của từ điển tường giải. So với các loại từ điển khác, từ điển tường giải cung cấp cho người đọc những đặc điểm đầy đủ nhất về các đơn vị chuyên môn ở tất cả mọi cấp độ miêu tả.

Nghiên cứu đối chiếu một số lượng lớn các từ điển thuật ngữ và từ điển thông thường có thể thấy rằng, công tác từ điển học có thể được chia ra thành 9 công đoạn sau:

○ Đăng kí

○ Hình thức hoá

○ Xác định từ nguyên

○ Xác định đặc tính từ điển

○ Giải thích

○ Liên tưởng

○ Thông tin dụng học

○ Minh hoạ

○ Cấu trúc vi mô của từ điển

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...