Đăng nhập

Trang nhấtTừ điển họcMột số vấn đề cơ bản về phương pháp luận Biên soạn Từ điển Thuật ngữ (Tiếp theo và hết)

PGS.TS HÀ QUANG NĂNG

3.2. Các kiểu từ vựng chuyên môn

Khi xem xét cương vị của thuật ngữ, trước hết cần chủ ý đến mối quan hệ của nó với từ đơn vị cơ bản của ngôn ngữ. Vấn đề phân chia từ vựng chuyên môn khỏi vốn từ vựng chung thường xảy ra trường hợp trong từ vựng chuyên môn có thể gặp cả những đơn vị có rất ít sự khác biệt về hình thức so với các từ chung, thông thường, lẫn những đơn vị trùng hoàn toàn về hình thức với các từ thông thường. Hơn nữa, các dạng khác nhau của thuật ngữ có thể xuất hiện ở các lĩnh vực tri thức riêng biệt.

Tuy nhiên, trong một hệ thống thuật ngữ bất kì luôn có một số lượng nhất định các đơn vị từ vựng có cả trong ngôn ngữ đời thường lẫn trong ngôn ngữ chuyên môn - người ta gọi chúng là những thuật ngữ có hình thức từ thông thường (được tạo thành bằng con đường thuật ngữ hoá các từ ngữ thông thường). Chính loại thuật ngữ này đã gây nên những khó khăn khi phân xuất từ vựng thuật ngữ khỏi vốn từ vựng của ngôn ngữ.

Có thể nhận thấy rằng, hiện nay, trên thực tế các từ ngữ thuộc ngôn ngữ văn học chung ngoài việc là tên gọi của các sự vật hiện tượng của cuộc sống hàng ngày, còn là đối tượng nghiên cúu của một ngành khoa học nào đó. Chẳng hạn, các từ cha, mẹ, con trai, con gái, ông, bà, anh, chị…bên cạnh là những từ ngữ thông thường, chúng còn là những thuật ngữ chỉ quan hệ họ hàng thân tộc. Điều đó chứng minh rằng ranh giời giữa vốn từ vựng thuật ngữ và từ vựng thông thường là không ổn định và có đặc điểm không phải đặc điểm lịch sử mà là đặc điểm chức năng. Giữa hai lớp từ vựng này luôn xảy ra cả quá trình chuyển các thuật ngữ thành từ ngữ thông thường, lẫn quá trình sử dụng các từ ngữ thông thường để tạo thành các thuật ngữ.

Sự khác biệt cơ bản của những từ ngữ thông thường được thuật ngữ hoá với các từ ngữ chung, thông thường là ở đặc điểm sử dụng. Việc đưa thuật ngữ vào đặc điểm sử dụng chuyên môn được thể hiện ở chỗ nó được sử dụng để gọi tên (định danh) khái niệm. Đây là thuộc tính quan trọng của thuật ngữ, vì thuộc tính này không chỉ quy thuật ngữ vào một lĩnh vực tri thức chuyên môn nhất định mà còn quyết định cả những đặc điểm khác của thuật ngữ.

Tính chính xác về nội dung là một trong những thuộc tính quan trọng của thuật ngữ. Tính chính xác về nội dung được hiểu là sự rõ ràng, được xác định bằng định nghĩa khoa học đồng thời được xác định bằng định nghĩa ý nghĩa của thuật ngữ. Vì vậy, tính xác định là thuộc tính cần thiết của thuật ngữ, là thuộc tính đóng vai trò quan trọng trong việc phân xuất từ vựng thuật ngữ khỏi vốn từ vựng của ngôn ngữ.

Có đầy đủ cơ sở để xác định ranh giới giữa tính xác định của thuật ngữ và cách giải thích các từ thông thường. Ranh giới đó được thể hiện ở chỗ giữa thuật ngữ và từ phản ánh ranh giới giữa khái niệm và sự vật. Việc so sánh tính xác định của khái niệm và sự vật chỉ ra rằng cách giải thích từ ngữ thông thường là cách giải thích không hệ thống và chứa đựng cả những thuộc tính không cơ bản của đối tượng. Chẳng hạn, hầu hết mọi người đều sẽ miêu tả cái ghế dựa là một đồ vật bằng gỗ để ngồi, có bốn chân, trong khi đó với tư cách là một thuật ngữ thì ghế dựa lại được xác định trên cơ sở so sánh với các loại đồ gỗ, chỉ cần xác định nó là một loại đồ gỗ dùng để ngồi, có tựa lưng và không có tựa tay là đủ mà không cần phải nêu các thuộc tính khác về chất liệu, về số lượng chân.

Như vậy, ranh giới giữa từ và thuật ngữ được chế định một cách khách quan ở chỗ chúng phản ánh những hiện tượng ở các cấp độ khác nhau của hoạt đọng tư duy - tư duy khoa học và tư duy đời thường.

Chức năng gọi tên khái niệm cho phép các tổ hợp từ mang tính thuật ngữ duy trì sự thống nhất cú pháp độc lập với số lượng các yếu tố trong thành phần thuật ngữ bảo đảm tính bền vững của tổ hợp từ thuật ngữ đó. Điều đó đem lại khả năng phân biệt các thuật ngữ và các tổ hợp thuật ngữ.

Thuật ngữ còn có chức năng định danh (gọi tên các sự vật hiện tượng). Điều này có nghĩa là “với tư cách là những đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, thuật ngữ thường được coi là những danh từ hoặc tổ hợp từ có danh từ làm trung tâm” [Канделаки Т. Л.1973: 15]. Theo nhận xét của Ахманова “trong các ngôn ngữ châu Âu, hệ thống danh từ phát triển đến mức chúng có khả năng tạo nên những danh từ từ các động từ và các danh từ trừu tượng được tạo thành từ gốc tính từ. Do đó, thành phần cơ bản của hệ thống thuật ngữ trong các ngôn ngữ này hoàn toàn có thể được giải quyết bằng các danh từ” [Ахманова Г. И. 1971: 11]. Quan điểm của bà được đa số các nhà thuật ngữ học tán đồng.

Cũng có ý kiến khác cho rằng một số động từ, thậm chí cả tính từ và trạng từ có thể xếp vào danh sách các thuật ngữ. Tuy nhiên, ý kiến này không nhận được sự ủng hộ và đồng tình, vì tính từ và trạng từ chỉ đảm nhiệm chức năng là bộ phận của thuật ngữ - yêu tố thuật ngữ, kiểu như các tính từ электорический, автоматический, микроскопический…và những phụ tố tương ứng trong thành phần thuật ngữ: электо-, авто-, микро-, với chức năng đồng nhất với nhau.

Các động từ có ý nghĩa thuật ngữ độc lập vì chúng dễ dàng tách ra thành những yếu tố có nghĩa “tiến hành, làm + hành động, được biểu thị bằng thuật ngữ danh từ tương ứng”. Vì vậy, tính định danh của các thuật ngữ nên được xem với tư cách là một trong những thuộc tính cơ bản của chúng. Tuy nhiên, những điều nêu trên không nên xem là những cấm đoán, khi trên thực tế người ta vẫn đưa vào bảng từ của từ điển thuật ngữ một số lượng nhất định các tính từ và động từ. Trong tình hình đó, ta nên hiểu rằng những tính từ trong vai trò là yếu tố thuật ngữ cũng như một số phụ tố được sử dụng nhiều nhất vẫn có thể đưa vào từ điển bên cạnh các thuật ngữ.

Những danh pháp có thể xếp ở vị trí thứ hai về giá trị trong danh sách các đơn vị từ vựng chuyên môn. Các danh pháp khác với thuật ngữ ở hàng loạt đặc điểm. So với thuật ngữ, số lượng danh pháp rất lớn và tiếp tục tăng lên. Vì vậy, nếu không đưa ra khỏi giới hạn thuật ngữ các danh pháp thì chúng ta không thể xác định số lượng các mục từ khi lập bảng từ cho từ điển thuật ngữ. Cần có sự phân giới giữa các đơn vị từ vựng chuyên môn dùng để biểu thị những khái niệm chung của một lĩnh vực khoa học nhất định với các danh pháp như là các đơn vị từ vựng chuyên môn dùng để biểu thị các khái niệm duy nhất – là các sự vật cụ thể ở lĩnh vực này [Ахманова Г. И. 1971: 6].

Danh pháp có thể coi là tên gọi sản phẩm cụ thể của nền kinh tế quốc dân, gọi tên các khái niệm đơn nhất, như Урал, Днепрогес [Канделаки Т. Л. 1973]. Hầu hết các danh pháp kĩ thuật đều là tên gọi các nhãn hiệu của máy móc, thiết bị, dụng cụ hoặc là tên các đối tượng nghiên cứu và các tác phẩm nghệ thuật (ví dụ: XB-5-24, БАМ, КАМАЗ, Волга, Орел, Война и Мир,...).

Danh pháp có hàng loạt những đặc điểm chung với thuật ngữ. Một trong những đặc điểm đó là tính độc lập của danh pháp và của thuật ngữ khỏi ngữ cảnh và tính chất trung hoà về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói.

Tuy nhiên, giữa danh pháp và thuật ngữ cũng có nhiều đặc điểm khác nhau. Theo Винокур thì tính ước lệ và tính trừu tượng là những đặc điểm cơ bản nhất của đa số các danh pháp [Винокур Г. О. 1939: 8]. Do đặc điểm này mà danh pháp gần với tên riêng, đặc biệt những danh pháp là tên gọi của những khái niệm đơn nhất. Một số lớn tên gọi những khái niệm này là những tên riêng. Sự tồn tại của những đơn vị danh pháp không quy định trực tiếp vị trí xác đinh của chúng trong hệ thống các khái niệm. Hơn nữa, các danh pháp liên hệ với các khái niệm liên quan đến chúng đều phải thông qua những thuật ngữ tương ứng. Chẳng hạn, tên gọi XB-5-24 đã giả định sự tồn tại của thuật ngữ “khối tường bê tông”. Rõ ràng là sự khác biệt trong mối liên hệ với khái niệm của danh pháp thể hiện rõ rệt. Không cần có sự phân biệt giữa danh pháp khoa học với danh pháp nghệ thuật. Trong kĩ thuật nếu để xác định thuật ngữ người ta phải quy thuật ngữ về một loại, lớp khái niệm gần nhất trực tiếp và chỉ ra những thuộc tính khác biệt về chủng loại, thì để xác định danh pháp cần chỉ ra thuật ngữ mà danh pháp đó có liên hệ, đồng thời, xác định những đặc điểm riêng của đối tượng do danh pháp biểu thị.

Như vậy, thuật ngữ là đơn vị cơ bản của vốn từ vựng chuyên môn. Nhưng ngoài các thuật ngữ và danh pháp, theo Гринев-Гриневич thì còn có một loại đơn vị khác có liên quan đến từ vựng chuyên ngành. Đó là thuật ngữ tự nhiên (терминоид), cận thuật ngữ (предтермин), tiền thuật ngữ (прототeрмин), tựa thuật ngữ (квазитермин), các từ nghề nghiệp (профeссионализм), biệt ngữ nghề nghiệp (профeссиональные жаргонизмы). Những đơn vị từ vựng này phải phân biệt rõ ràng trong các công trình nghiên cứu và các công việc thực tế.

Gọi tên các khái niệm chuyên môn là một trong những đặc điểm cơ bản của thuật ngữ. Đặc điểm của khái niệm có thể được sử dụng như là phương tiện cơ bản để phân biệt thuật ngữ, danh pháp, tiền thuật ngữ và các đơn vị khác. Chẳng hạn, thuật ngữ là tên gọi những khái niệm chung, còn danh pháp thường là tên gọi những khái niệm đơn nhất. Tiền thuật ngữ (прототермин) là những đơn vị xuất hiện được sử dụng trong thời kì phát triển của các tri thức chuyên môn trước khoa học. Vì vậy, chúng gọi tên không phải những khái niệm mà là những biểu tượng (ý niệm) chuyên môn. Hiện nay các tiền thuật ngữ tồn tại dưới dạng các đơn vị từ vựng của những ngành khoa học còn thiếu những cơ sở lí thuyết khoa học, hoặc dưới dạng được gọi là thuật ngữ “dân gian” được sử dụng song hành với các thuật ngữ khoa học, nhưng không có liên hệ với hệ thống khái niệm.

Thuật ngữ tự nhiên (терминоид) là từ vị chuyên môn được sử dụng để gọi tên những khái niệm thuần chất (натуральные понятия) tức là những khái niệm chưa ổn định và chưa được hiểu một nghĩa, không có ranh giới rõ ràng. Vì thế, thuật ngữ tự nhiên (терминоид) không có những thuộc tính của thuật ngữ như tính chính xác về nghĩa, tính độc lập khỏi ngữ cảnh và tính ổn định thường xuyên. Thông thường, thuật ngữ được định vị trong các từ điển mô tả với chỉ dẫn rõ ràng về nội dung của chúng. Cận thuật ngữ (предтермин) là những từ vị chuyên môn được sử dụng với tư cách là thuật ngữ để gọi tên những khái niệm mới hình thành, nhưng không đáp ứng những yêu cầu của thuật ngữ (thường là yêu cầu về hình thức ngắn gọn).

Cận thuật ngữ (предтермин) thường được thể hiện:

a. đoản ngữ miêu tả - đó là tổ hợp định danh nhiều từ được dùng để gọi tên những khái niệm, nhưng không đảm bảo yêu cầu ngắn gọn;

b. tổ hợp kết hợp, kiểu лаки и краски” (sơn dầu và chất màu), "клеи и мастики" (keo và matit);

c. tổ hợp gồm đoản ngữ tính động từ hay trạng động từ, ví dụ конструкция, работающая на узгиб (kết cấu sử dụng khúc cong).

Trong những trường hợp, sự thay thế cận thuật ngữ (предтермин) bằng đơn vị từ vựng phù hợp hơn với những yêu cầu thuật ngữ, khi đó, cận thuật ngữ sẽ được củng cố (định vị) trong từ vựng chuyên môn và trở thành tựa thuật ngữ (квазитермин).

Các từ ngữ nghề nghiệp (профессионализмы) là phạm trù tương đối phức tạp. Hiện nay, có 4 quan niệm về từ ngữ nghề nghiệp:

a. đồng nhất chúng với thuật ngữ;

b. về mặt lịch đại (lịch sử), các từ ngữ nghề nghiệp được xếp vào những đơn vị từ vựng của các nghề thủ công;

c. nêu ra những tiêu chuẩn nhằm phân giới những thuộc tính cơ bản của từ ngữ nghề nghiệp về phương diện tổ chức, về sự hạn chế phạm vi sử dụng trong lời nói, về sự tồn tại những giá trị tu từ, biểu cảm trong nội dung ý nghĩa của chúng;

d. đưa những cấu tạo không có tính chất định danh và cả các biệt ngữ vào những từ nghề nghiệp.

Biến thể của các từ ngữ nghề nghiệp là những biệt ngữ nghề nghiệp (ví dụ, нул - chu trình zéro của công trình xây dựng).

Khác với hệ thuật ngữ, trong từ điển thuật ngữ người ta có thể thu thập và giải thích cả những yếu tố thuật ngữ (терминоэлемент) như là những đơn vị từ vựng độc lập. Yếu tố thuật ngữ là một đơn vị thuật ngữ có cấu trúc nhỏ nhất, có ý nghĩa cố định, tham gia vào việc cấu tạo thuật ngữ và được hình dung như một từ (tính từ hoặc trạng từ) trong thành phần tổ hợp từ, hoặc là một thân từ, một hình vị cấu tạo từ trong thành phần các từ phức hoặc từ phái sinh [Налепин 1975]. Những yếu tố thuật ngữ như vậy trong từ điển thuật ngữ sẽ được coi là những mục từ riêng.

Chúng ta có thể hình dung các kiểu đơn vị từ vựng chuyên môn với những đặc điểm của chúng trong bảng sau đây:

Tên gọi khái niệm chung

Ổn định về hình thức

Yêu cầu chuẩn tương ứng

Độc lập với ngữ cảnh

Trung hoà về ngữ nghĩa

Hạn chế về phạm vi sử dụng

Thuật ngữ (термин)

+

+

+

+

+

-

Danh pháp (номен)

-

+

+

+

+

-

Tiền thuật ngữ

(прототермин)

-

+

+/-

+

+

-

Thuật ngữ tự nhiên

(терминоид)

Thuần chất

+/-

-

-

-

-

Cận thuật ngữ (предтермин)

+

-

-

+

+/-

-

Tựa thuật ngữ

(квазитермин)

+

+

-

+

+

-

Từ nghề nghiệp (профeссионализм)

+

+

+/-

+

-/+

-

Biệt ngữ nghề nghiệp

(проф. жаргонизм)

+

+

-

+

-

+

[Xem: Гринев С. В. -Гриневич 2009: 84-93]

3.3. Lựa chọn từ vựng chuyên môn

Việc xác định các kiểu loại đơn vị chuyên môn và những thuộc tính của chúng là những vấn đề của thuật ngữ học. Tuy nhiên, việc giải quyết những vấn đề này lại được thể hiện và phản ánh trong từ điển thuật ngữ. Chẳng hạn, việc phân định thuật ngữ khỏi các từ ngữ thông thường trong từ điển thuật ngữ thường dựa vào những thuộc tính của thuật ngữ như tên gọi khái niệm chung và tính xác định. Đồng thời, khi sử dụng tiêu chuẩn tính xác định hoàn toàn không cần thỉết phải kiểm tra từng thuật ngữ được lựa chọn ở các lĩnh vực khác nhau để đưa vào thành các mục từ của từ điển thuật ngữ. Bởi lẽ, các từ điển đều ghi rõ xuất xứ của thuật ngữ. Còn các thuật ngữ không xuất hiện trong các từ điển đã có đều được rút ra từ các nguồn tư liệu các chuyên môn cụ thể.

Cần tách các các danh pháp và sắp xếp thành những phần riêng trong từ điển. Những đơn vị từ vựng chuyên môn như thuật ngữ tự nhiên (терминоид), tiền thuật ngữ (предтермин), tựa thuật ngữ (квазитермин) của các lĩnh vực chuyên môn cụ thể cũng cần đưa vào từ điển thuật ngữ bên cạnh các thuật ngữ chân chính vì chúng là tên gọi đơn nhất các khái niệm chuyên ngành tương ứng. Vì thế, việc phân xuất chúng ra khỏi các thuật ngữ là không cần thiết. Việc tách các đơn vị này khỏi các từ ngữ thông thường là hoàn toàn dễ dàng vì chúng có thể được sử dụng như những tiêu chí định danh các khái niệm chuyên môn.

Trong nhiều công trình nghiên cứu, người ta đặc biệt chú ý xác định tiêu chuẩn lựa chọn đơn vị từ vựng chuyên môn trong bảng từ. Các tiêu chuẩn sau đây cần được xác định là những tiêu chuẩn quan trọng. Đó là: tính quan trọng (hay giá trị ngữ nghĩa của thuật ngữ, mức độ sử dụng (tần số sử dụng), thuộc tính theo chủ đề, tính hệ thống, khả năng cấu tạo thuật ngữ, khả năng bao trùm từ vựng của hệ thuật ngữ được miêu tả, tính đồng đại, tính chuẩn mựckhả năng kết hợp. Các tiêu chuẩn này có liên quan chặt chẽ với nhau, đặc biệt là các tiêu chuẩn: thuộc tính vật chất, tính hệ thống, khả năng bao trùm từ vựng của hệ thuật ngữ được miêu tả. Sự tuân thủ các tiêu chuẩn này khi lựa chọn các đơn vị từ vựng chuyên môn để xây dựng bảng từ sẽ đảm bảo cho phương pháp hệ thống của từ điển. Trong quá trình lựa chọn các đơn vị từ vựng và xây dựng bảng từ, tính hệ thống hoá là con đường duy nhất để chia tách các thuật ngữ thuộc từng lĩnh vực khái niệm nhất định, đảm bảo cho tất cả các thuật ngữ đều có mặt trong từ điển. Tính hệ thống hoá còn đem lại khả năng xác định mức độ bao trùm và phản ánh các tiểu hệ thống các đơn vị từ vựng chuyên môn của lĩnh vực nào đó, xác định phạm vi rõ ràng của từ điển, làm sáng tỏ những thuật ngữ đồng nghĩa và bảo đảm sự đầy đủ các thuật ngữ cần thiết trong bảng từ của từ điển.

Khi lựa chọn các thuật ngữ cần lựa chọn các hình thức chuẩn của chúng. Trong các ngôn ngữ châu Âu, đặc biệt là trong tiếng Nga, hình thức chuẩn của thuật ngữ được lựa chọn là những thuật ngữ danh từ ở nguyên cách số nhiều (trừ những danh từ không có hình thức số nhiều). Các tính từ (nếu được lựa chọn là mục từ) cần đưa vào kết hợp với các danh từ (chẳng hạn, желеробетонные конструкции, внутривенные вливания).

Những thuật ngữ tổ hợp từ cũng được sắp xếp vào bảng từ theo trật tự các từ tạo thành bảng từ. Những tổ hợp từ cố định cũng được coi như một thuật ngữ không phụ thuộc vào độ dài của chúng. Những thuật ngữ và những tổ hợp từ thuật ngữ cũng được coi là những đơn vị từ vựng độc lập vì chúng có ý nghĩa rõ ràng và ý nghĩa của chúng hoàn toàn độc lập với ngữ cảnh sử dụng.

Khi xây dựng bảng từ cho từ điển thuật ngữ, chúng ta thường gặp khó khăn khi kiểm tra tính hệ thống của các thuật ngữ trong bảng từ. Do đó, dễ dàng hơn cả là người ta thường xây dựng bảng từ dựa vào cách sắp xếp thuật ngữ theo trật tự bảng chữ cái ở từng ngôn ngữ. Theo đó, các thuật ngữ sẽ được quy thành từng vần theo trật tự chữ cái. Trong bảng từ xếp theo chữ cái, tất cả các thuật ngữ đồng nghĩa cùng biểu thị một khái niệm phải được đánh số. Những thuật ngữ nhiều nghĩa trong bảng từ chỉ được xếp một lần ở một vị trí nhất định.

4. Xây dựng bảng chỉ dẫn cơ bản cho từ điển

4.1. Cách tiếp cận hệ thống trong từ điển thuật ngữ

Khi xây dựng bảng chỉ dẫn cơ bản cho từ điển cần chú ý đến khối lượng công việc ở các loại hình từ điển khác nhau. Trong các từ điển giải thích thì khối lượng công việc tập trung chủ yếu ở việc định nghĩa thuật ngữ. Trong các từ điển đối chiếu, công việc chủ yếu là lựa chọn các đơn vị tương đương tiếng nước ngoài. Trong các từ điển giáo khoa, nhiệm vụ cơ bản là lựa chọn, cung cấp khối lượng từ ngữ phù hợp với nhu cầu và khả năng học tập của học sinh, sinh viên, đồng thời chỉ ra những nghĩa cơ bản, hay duy nhất ở các từ ngữ được lựa chọn, nêu ra những khả năng kết hợp điển hình trong những tình huống điển hình. Trong các từ điển thông tin lại cần xác định các chu cảnh ngữ nghĩa của thuật ngữ. Trong tất cả các loại hình từ điển cần chú ý đến tính hệ thống của các đơn vị từ vựng chuyên môn là một trong những vấn đề khó khăn nhất của thuật ngữ học trong từ điển thuật ngữ. Điều này có liên hệ rất chặt chẽ đến tính hệ thống của vốn từ vựng nói chung.

Thứ nhất, vì ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc nên tính hệ thống thể hiện ở tất cả các cấp độ ngôn ngữ, trong đó có cấp độ từ vựng. Nghiên cứu quá trình phát triển những kĩ năng và thói quen ngôn ngữ của con người đã chỉ ra rằng ngay từ nhỏ, con người khi nhận thức thế giới xung quanh, đã có xu hướng tổ chức theo các nhóm đề tài và tiếp nhận cấu trúc theo kiểu các từ điển hệ thống - đó là Thesaurus;

Thứ hai, sự hình thành những tri thức chuyên môn dẫn đến việc con người có khả nằng lĩnh hội hệ thống các khái niệm. Những khái niệm này, được thể hiện bằng các hệ thống thuật ngữ;

Thứ ba, việc xác định rõ mối liên hệ giữa các khái niệm trên cơ sở phân loại các khái niệm và hình thành các hệ thống phân loại trong các hệ thuật ngữ thường dẫn đến việc chỉnh lí hệ thuật ngữ.

Như vậy, cả ba cấp độ của tính hệ thống đều được thể hiện trong phạm vi từ vựng chuyên môn. Cụ thể là:

○ Trong hệ thống từ vựng, thuật ngữ được coi là một đơn vị từ vựng của ngôn ngữ;

○ Trong hệ thống chuyên môn, thuật ngữ được coi là một đơn vị từ vựng chuyên môn của ngôn ngữ phản ánh những quan hệ hệ thống của các khái niệm thuộc phạm vi chuyên môn nhất định;

○ Trong hệ thống thuật ngữ tồn tại một số hệ thuật ngữ đã trải qua quá trình hệ thống hoá và chỉnh lí.

Từ điển thuật ngữ phải thể hiện được những kết quả nghiên cứu thuật ngữ, nghĩa là phải thể hiện được những thành tựu đã đạt được của công tác thuật ngữ học.

Khi biên soạn bảng chỉ dẫn cơ bản của từ điển, tính hệ thống hoá của thuật ngữ và những khái niệm do chúng thể hiện đã làm giảm nhẹ việc biên soạn và việc giải thích những thuật ngữ khoa học. Nhờ hệ thống hoá mà những thuật ngữ khoa học cùng loại, những thuật ngữ đồng thuộc có thể được hình dung một cách rõ ràng.

Hệ thống hoá thuật ngữ cho phép tìm ra trong các thuật ngữ đồng nghĩa một thuật ngữ cơ sở có hình thức rõ ràng nhất. Dù sao đi nữa, việc lựa chọn này là hoàn toàn tự giác trong khi vắng mặt hệ thống hoá như vậy, có thể ít gặp những thuật ngữ đồng nghĩa trong các từ điển giải thích.

Trong các từ điển đối chiếu, sự hiểu biết về hệ thuật ngữ được đối chiếu trong các ngôn ngữ khác nhau cho phép lựa chọn được những tương đương rõ ràng hơn, ít các tương đương lâm thời hơn.

Tính hệ thống trong từ điển đối chiếu cũng cần thể hiện ở giai đoạn xây dựng bảng từ để bảo đảm mức độ bao phủ được tất cả các thuật ngữ cần thiết, đồng thời, thoát li ảnh hưởng hệ thống thuật ngữ của ngôn ngữ dịch.

Tính hệ thống có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong khi dịch nghĩa và giải thích ý nghĩa các thuật ngữ trong các từ điển chuyên ngành, Ở đó, tính hệ thống không chỉ tránh được những sai sót phổ biến nhất (thường thấy trong từng trang của các từ điển hiện có), mà còn giảm thiểu sức lao động nhờ việc đơn giản hoá cách lựa chọn những đặc trưng cơ bản của mỗi thuật ngữ cũng như khi lựa chọn các tương đương thuật ngữ tiếng nước ngoài.

4.2. Định nghĩa thuật ngữ

Mục đích cơ bản của mọi từ điển thuật ngữ là miêu tả các thuật ngữ phản ánh hệ thống các khái niệm được các thuật ngữ này gọi tên. Việc miêu tả các thuật ngữ cần phải thấy được sự thể hiện và sự sắp xếp hệ thống khái niệm tương ứng. Những nguyên tắc hệ thống hoá, phân loại khái niệm và định nghĩa khái niệm đã được nghiên cứu trong logic học, vì vậy việc nhận thức các khái niệm từ phương diện lôgic cũng là cần thiết trong các công trình từ điển thuật ngữ.

Mặc dù vấn đề định nghĩa trong từ điển đã có nhiều công trình nghiên cứu của lôgic học, thuật ngữ học và ngôn ngữ học đề cập đến, nhưng người ta vẫn tổ chức một hội nghị riêng dành cho "Những vấn đề định nghĩa thuật ngữ trong các từ điển loại hình khác nhau" [Ленинград 1974]. Những vấn đề lí luận và thực tiễn của định nghĩa thuật ngữ trong các từ điển hiện hành còn chứa đựng nhiều điều chưa rõ ràng. Sự không rõ ràng thể hiện trước hết ở lời định nghĩa trong từ điển học. Nếu định nghĩa từ điển các từ thông thường liên quan đến từ điển học, thì định nghĩa trong từ điển thuật ngữ cũng liên quan đến từ điển thuật ngữ. Rõ ràng rằng, việc nghiên cứu nhiều bình diện định nghĩa trong lôgic học có thể là cơ sở để xem xét những cách định nghĩa thuật ngữ trong từ điển thuật ngữ. Tuy nhiên, những quy tắc logic về cách định nghĩa khái niệm được sử dụng trong định nghĩa ý nghĩa thuật ngữ không phải đã giải quyết được hết tất cả những vấn đề định nghĩa các thuật ngữ trong từ điển.

Nghiên cứu hệ thống khái niệm thường theo trình tự sau đây:

○ Lựa chọn các khái niệm và quy nhóm chúng;

○ Hệ thống hoá các khái niệm và xây dựng sơ đồ phân loại các khái niệm;

○ Định nghĩa khái niệm.

Khái niệm là hình thức của tư duy phản ánh đối tượng vật chất và phi vật chất, nhờ đó nhận thức được tách ra và được định vị chỉ bằng những đặc trưng cơ bản của đối tượng.

Mỗi khái niệm đều có khối lượng. Đó là toàn bộ tất cả những đối tượng (sự vật) và hiện tượng có những thuộc tính của khái niệm đó. Phụ thuộc vào số lượng những sự vật hay hiện tượng được phản ánh, khái niệm được phân chia ra thành những khái niệm đơn nhất chí có một yếu tố (như Mặt Trăng, UNESCO) và những khái niêm chung gồm nhiều yếu tố, tức là quy thành nhóm các đối tượng đồng loại. Để giải thích những khái niệm đơn nhất, chúng ta thường dùng các danh pháp, vì vậy để điều chỉnh hệ thống thuật ngữ người ta chỉ chọn những khái niệm chung. Ngoài ra, trong mỗi lĩnh vực nhận thức, bên cạnh những khái niệm đặc thù cho từng lĩnh vực người ta sử dụng những khái niệm khoa học chung và những khái niệm thuộc những phạm vi kiến thức liền nhau (tiếp xúc với nhau).

Hệ thống hoá các khái niệm là sự sắp xếp các khái niệm tương ứng với cấu trúc của lĩnh vực tri thức đó. Hệ thống hoá khái niệm cho phép chỉ ra những liên hệ cơ bản và những quan hệ giữa các khái niệm, xác định rõ vị trí của mỗi khái niệm trong hệ thống khái niệm, kiểm tra việc lựa chọn các thuật ngữ, phát hiện những thiếu sót của hệ thuật ngữ (hiện tượng đồng nghĩa, đồng âm, những cách giải thích khác nhau cho cùng một khái niệm...).

Khi phân chia khối lượng các khái niệm cần tuân thủ những quy tắc sau:

1. Mỗi cách phân chia cần sử dụng một cơ sở phân loại. Ví dụ, có thể phân chia các bệnh viện thành bệnh viện khu vực, bệnh viện thành phố, bệnh viện () nông thôn, bệnh viện tỉnh... hoặc bệnh viện đa khoabệnh viện chuyên khoa, chứ không nên phân chia thành bệnh viện thành phố và bệnh viện đa khoa vì hai loại bệnh viện này không có chung cơ sở phân loại;

2. Việc phân chia cần đối xứng, hài hoà với nhau, nghĩa là khối lượng các khái niệm đồng loại phải được phân chia theo một đặc trưng phân loại, khối lượng của khái niệm đã được phân chia phải tương đương nhau;

3. Những thành phần được phân chia cần phải liên hệ với nhau.

Tất nhiên, có thể phân chia khái niệm không chỉ theo một đặc trưng, mà còn có thể d<

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...