Đăng nhập

Trang nhấtTừ điển họcMột số suy nghĩ nhân đọc một cuốn từ điển song ngữ hóa

HỒ HẢI THUỴ

Thử tưởng tượng cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học một ngày nào đó xuất hiện dưới hình thức như sau: liền ngay sau lời định nghĩa tiếng Việt là lời dịch nguyên văn định nghĩa đó sang tiếng Anh; liền ngay sau câu thí dụ tiếng Việt là lời dịch nguyên văn câu thí dụ đó sang tiếng Anh; thậm chí cả những lời chú thích, chú giải (ví dụ địa phương, ít dùng, cũ, trang trọng, v.v.) cũng đều được dịch hết. Lúc đó, ta sẽ xếp cuốn từ điển này vào loại nào, nếu căn cứ vào các hệ thống phân loại từ điển cho đến nay?1 Không phải song ngữ (đối dịch), cũng không phải đơn ngữ tường giải, mà là đơn ngữ tường giải (gốc) được chuyển dịch toàn bộ thành song ngữ, và như vậy cũng không thể gọi là song ngữ tường giải được, vì cách tường giải (định nghĩa) của mỗi ngôn ngữ tất có chỗ khác nhau, chứ không phải giống nhau như kiểu dịch nguyên xi.

Người Trung Quốc (TQ) đã làm việc này cho cuốn từ điển tiếng Trung2 của họ - cuốn Hiện đại Hán ngữ từ điển (HĐHNTĐ) - mà họ cho là một việc “đại sự” (“xuất bản bản song ngữ Hán-Anh là một đại sự trong sự nghiệp xuất bản từ điển loại Hán-Anh ở nước ta” – lời tựa của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ (VNCNN), Viện Khoa học xã hội (VKHXH) TQ (TQ) viết cho cuốn Hán-Anh song ngữ Hiện đại Hán ngữ từ điển 汉英双语 现代汉语词典The Contemporary Chinese Dictionary [Chinese-English Edition])3.

1. Trước khi giới thiệu bản dịch tiếng Anh, xin lược qua vài nét về bản gốc.

HĐHNTĐ là một cuốn từ điển cỡ vừa (khoảng 60.000 mục từ) được phổ biến rộng rãi nhất ở TQ với hơn 40 triệu bản đã được xuất bản. Lịch sử hình thành của nó có thể tóm lược như sau:

- Ngày 6-2-1956, Quốc vụ viện TQ giao cho VNCNN (VKHXH TQ) là đến năm 1958 (sic!)4 phải biên soạn xong một cuốn từ điển tiếng Hán hiện đại5 cỡ vừa để xác định chuẩn từ vựng cho tiếng này.

- Từ mùa hè 1956, Phòng biên tập Từ điển của VNCNN bắt đầu thu thập tư liệu dưới sự chỉ đạo của hai nhà ngôn ngữ học nổi tiếng của TQ là ông Lã (Lữ) Thúc Tương (khoảng thời gian 1956-1960) và Đinh Thanh Thụ (khoảng thời gian 1961-1978)6.

- Đầu 1958 bắt đầu biên soạn.

- Cuối 1959 hoàn thành bản thảo đầu tiên.

- 1960 cho in “bản in thử” (试印版) (Lã Thúc Tương chủ biên) để trưng cầu ý kiến7.

- 1965 lại cho ra “bản dùng thử” (试用版) (Đinh Thanh Thụ chủ biên).

- 1973 in nhiều “bản dùng thử” ra để lưu hành nội bộ, đồng thời dựa trên bản đó bắt đầu chính thức chỉnh lí. Công việc bị đình đốn mấy năm vì sự kiện “lũ bốn tên”.

- 1977 mới có bản thảo chính thức đem in để có được lần xuất bản thứ nhất vào tháng 12-1978.

- Cuối 1979, bản in gốc bị hỏng nên giữa năm 1980 phải xếp chữ lại và có sửa chữa đôi chút không đáng kể.

- 1-1983, xuất bản lần thứ hai dựa theo bản gốc của lần xuất bản thứ nhất 1978.

- 10-1994 xuất bản bản bổ sung sửa chữa khá kĩ (tu đính bản).

- 7-1998 in lại, có sửa chữa chút ít.

- 2002 xuất bản bản bổ sung mới với hơn 1.200 từ và nghĩa mới.

- 7-2005 xuất bản lần thứ 5 (những lần xuất bản trước không thấy đánh số liên tục). Loại bỏ 2.000 từ cũ, thêm 6.000 từ mới, tổng số từ khoảng 65.000.

2. Về bản song ngữ. Phòng biên tập Từ điển song ngữ, Bộ phận Ngôn ngữ học và Từ điển, NXB Giảng dạy và Nghiên cứu Ngoại ngữ (Bắc Kinh) đảm nhiệm công việc dịch nguyên văn (theo bản bổ sung 2002) cuốn HĐHNTĐ sang tiếng Anh.

Cũng nên biết rằng, trước và sau khi có cuốn này, rất nhiều cuốn từ điển song ngữ Hán-Anh cũng đều dựa trên bảng từ và nội dung của cuốn HĐHNTĐ.

Ban biên dịch gồm 12 biên dịch viên, 4 cố vấn, 2 phó tổng duyệt và 1 tổng duyệt.

Kiểu làm này không hẳn là một “đại sự” (mà khi dịch sang tiếng Anh, các dịch giả dùng từ “originative contribution”) như Viện trưởng VNCNN nói ở trên, bởi vì từ 1986, NXB Kernerman8 ở Israel đã xuất bản cuốn Oxford Student's Dictionary of Current English (tác giả A. S. Hornby) bằng tiếng Hebrew (Do Thái) mà ông chủ sáng lập nhà xuất bản này (Lionel Kernerman) đặt tên cho kiểu từ điển này là bán song ngữ (semi-bilingual). NXB Zanicelli (Ý) sau này khi chuyển dịch từ điển tiếng Anh sang tiếng Ý cũng theo kiểu đó thì gọi là từ điển đơn-song ngữ (mono-bilingual). Còn nhà từ điển học nổi tiếng người Áo TS Reinhard Hartmann thì gọi kiểu từ điển này là từ điển song ngữ hoá (bilingualised dictionary), mà sau này các nhà từ điển học đều theo đó mà gọi. Trước đó, loại từ điển chưa nằm trong loại nào trong hệ thống phân loại đều được gọi bằng cái tên chung là từ điển lai (hybrid dictionary).

Người dạy ngoại ngữ thường khuyên người học (từ trung cấp trở lên) nên tra nghĩa từ ngoại văn bằng từ điển tường giải ngoại văn. Về mặt sư phạm, đây là một điều đúng đắn. Nhưng người học vẫn thường gặp khó khăn khi tra từ điển như vậy, cho nên nếu có lời dịch của cái định nghĩa ngoại văn, hoặc ít nhất là lời dịch nghĩa của từ ngoại văn đó sang tiếng mẹ đẻ, thì người học sẽ thấy dễ học hơn nhiều. Phần lớn các từ điển song ngữ hoá đã được biên soạn cho đến nay (lần lượt theo thứ tự thời gian: Ả Rập, Ý, Hi Lạp, Nhật, Ba Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, TQ, Xoa-hi-li, v.v.) đều làm theo cách:

từ đầu mục - định nghĩa (nguyên văn ngoại); từ tương đương dịch sang tiếng mẹ đẻ của người học, ví dụ:

scene – the place where something real or imaginery happens (định nghĩa tiếng Anh ngoại ngữ); scène (từ dịch tương đương với từ đầu mục, tiếng Pháp, tiếng mẹ đẻ của người học).

[Chú ý: Mọi thí dụ đều để nguyên không dịch]

Riêng đối với người TQ, phải chăng vì đặc điểm văn tự của họ không chiếm nhiều diện tích in ấn, họ làm theo cách, ngoài việc vẫn cung cấp từ tương đương như cách làm vừa nói trên đây, còn dịch cả nguyên văn lời định nghĩa cũng như các thí dụ. Họ đã làm như vậy cho nhiều cuốn từ điển tiếng Anh Oxford cũng như Longman, và đã được thị trường chấp nhận khá nồng nhiệt.

Nhưng đó là những cuốn từ điển dành cho người học ngoại ngữ. Người dịch các cuốn từ điển ngoại ngữ sang tiếng mẹ đẻ thông thường là người nói tiếng mẹ đẻ. Trường hợp của cuốn Hán-Anh song ngữ HĐHNTĐ đang được bàn đến trong bài này có lẽ không giống như trường hợp của các cuốn từ điển cùng loại vừa nói đến. Vì những người biên dịch sang tiếng Anh đều không phải là những người mà tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh. Vậy cuốn này nhắm đối tượng người học nào? Nếu nhắm đến người Anh học tiếng Hán, e rằng nên dành công việc đó cho người Anh làm, còn nếu nhắm đến người TQ học tiếng Anh, thì đã có những cuốn song ngữ hoá khác như Oxford, Longman dịch sang tiếng Trung. Những người chủ trương dịch cuốn HĐHNTĐ, có thể bị choáng ngợp trước thành công rực rỡ nhiều năm liền của các cuốn Oxford và Longman dịch sang tiếng Trung, cho nên đã không nhìn thấy một điều khác nhau cốt tử trong mục tiêu là: Những cuốn từ điển tiếng Anh Oxford và Longman là được người Anh soạn nhắm tới người nước ngoài học tiếng Anh ở các trình độ khác nhau, và người TQ dịch chúng sang tiếng Trung là một việc làm rất có lợi cho người TQ học tiếng Anh. Còn cuốn HĐHNTĐ là được biên soạn nhắm tới việc chuẩn hoá tiếng phổ thông TQ, nhắm tới người học và tra cứu là người TQ, chứ không phải nhắm tới người học nước ngoài.

Trước và sau khi cuốn Hán-Anh song ngữ HĐHNTĐ được xuất bản, cũng có một số cuốn có cách giải quyết có vẻ có lí hơn, chẳng hạn như các cuốn:

- Trung học sinh Trung Hoa tự từ điển9, có cấu trúc mục từ:

từ đầu mục tiếng Trung [dịch từ đầu mục sang tiếng Anh]; định nghĩa tiếng Trung; thí dụ tiếng Trung

- Hán-Anh song giải từ điển10, có cấu trúc mục từ theo 2 kiểu:

+ những từ có từ tương đương hoàn toàn:

từ đầu mục tiếng Trung – định nghĩa tiếng Anh; thí dụ: xã hội học = sociology

+ những từ không có từ tương đương, nhất là các hư từ, hoặc chỉ có ở TQ:

từ đầu mục tiếng Trung – định nghĩa tiếng Trung – dịch định nghĩa sang tiếng Anh; thí dụ: mục từ nói về “đường lối chung xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Từ điển song ngữ hoá là một loại hình tương đối mới11, tiếng Việt cũng đã từng có sự thử nghiệm qua cuốn Từ điển Anh-Việt12 dịch từ cuốn Oxford Advanced Learner's Dictionary, 4th ed. (1989)13. Có điều sự thử nghiệm của các tác giả Việt Nam lại khác với các tác giả nước ngoài khác. Do chữ in tiếng Việt chiếm diện tích in ấn nhiều hơn chữ Anh khoảng 120-125%, lại thêm thói quen của người đọc Việt Nam không thích co chữ nhỏ (có thể do các dấu thanh), cho nên không thể nào dịch toàn bộ định nghĩa cũng như thí dụ của cuốn nguyên văn sang tiếng Việt được14. Các tác giả VN đã chọn phương thức: bỏ lời định nghĩa nguyên văn (thật ra đây là sự phá vỡ nguyên lí “tra từ ngoại ngữ bằng từ điển tường giải ngoại ngữ” vốn rất cần phải tôn trọng), chỉ dịch nguyên văn lời định nghĩa sang tiếng Việt (để giúp người học hiểu cặn kẽ hơn nghĩa của từ; và nhất là đối với những từ mà tiếng Việt không có từ tương đương, thì lời dịch định nghĩa này rất quý báu), dịch ra từ tương đương (nếu có tương đương hoàn toàn; và in đậm như từ đầu mục để dễ tra tìm); các thí dụ đều dịch nguyên văn. Ngay khi mới phát hành, kiểu từ điển mới này đã nhận được một số phê bình cho là không tuân theo một quy cách chính thống nào. Song sự hưởng ứng khá nồng nhiệt của thị trường đã dạy cho các tác giả nhiều bài học quý báu về mối tương quan giữa lí thuyết của nhà từ điển học với sự tiện dụng của người dùng phổ thông.

Về vị trí phân loại của kiểu từ điển lai này, hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau. Cũng có chuyện trứng có trước hay gà có trước ở đây. Số là khoảng đầu những năm 80 thế kỉ trước, từ điển song ngữ ra đời ồ ạt, các nhà kinh doanh muốn tìm một phân khúc thị trường mới, nên đã sáng tạo ra các hình thức lai này, và… không ngờ đạt được kết quả kinh doanh ngoài mong đợi. Người ta bắt đầu phải xác định vị trí của loại này trong hệ thống phân loại từ điển. Và thế là các nhà từ điển lục lọi trong lịch sử ra được một cuốn từ điển gọi là Vocabolario degli Accademici della Crusca15 của Ý, in từ năm 1612, mà suốt cho đến lần tái bản thứ 4 (1729-1738) vẫn giữ nguyên rất nhiều từ ngữ tiếng Latin như một cách đưa thêm một ngôn ngữ thứ hai để làm rõ nghĩa và dễ tra cho những người biết ngôn ngữ thứ hai này, và vô tình, nó trở thành một thứ từ điển tường giải có chú thêm ngôn ngữ thứ hai, đúng như kiểu từ điển song ngữ hoá mà ta đang bàn cho những cuốn hiện đại này.

Có nhiều người cho rằng tương lai nghề từ điển sẽ nằm ở mảng từ điển song ngữ, vì quan hệ quốc tế ngày càng phát triển. Nếu đúng như vậy thì các từ điển song ngữ hoá chắc cũng sẽ có chỗ đứng vững chắc hơn và đàng hoàng bước vào hệ thống phân loại từ điển.

CHÚ THÍCH

1 Tưởng tượng thôi, thực tế không có khả năng làm như vậy cho tiếng Việt, vì cuốn sách sẽ to gấp đôi, không ai muốn ôm. Chữ Hán không chiếm nhiều diện tích in ấn.

2 Từ lâu và trong một thời gian dài, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã bàn bạc và nhất trí gọi thứ tiếng này là tiếng Hán, thay vì các cách gọi tiếng Hoa, tiếng Trung, với lí do (thời đó) là không có tiếng Liên Xô mà chỉ có tiếng Nga thì cũng như không có tiếng Trung Quốc mà chỉ có tiếng Hán. Song hình như vấn đề không đơn giản như vậy về mọi mặt (lịch sử, tâm lí dân tộc, …). Gần đây, trên mạng, người ta thấy xu hướng gọi thứ tiếng đó là tiếng Trung (Quốc) nhiều hơn là tiếng Hán. Trong bài này, tôi cũng theo xu hướng đó: trang dịch của Google gọi là tiếng TQ, Wikipedia và Wiktionary đều gọi là tiếng TQ, nếu viết bằng chữ Hán thì gọi là Trung văn (chứ không phải Hán ngữ).

3 NXB Giảng dạy và Nghiên cứu Ngoại ngữ, Bắc Kinh, 2002.

4 Biên soạn một cuốn từ điển chuẩn cỡ vừa trong chưa đầy 3 năm: có phải là điển hình của ý chí luận?

5 Gọi là tiếng Hán hiện đại là để phân biệt với tiếng Hán cổ.

6 Cả hai đều là viện sĩ ngành triết học và khoa học xã hội Viện Khoa học TQ.

7 Cái này chắc sẽ gợi cho nhiều người Việt Nam nhớ lại một thời tập A-C Từ điển tiếng Việt mà nhiều người muốn cố quên đi.

8 NXB này đã từng muốn đặt quan hệ với Trung tâm Từ điển học của cố GS Hoàng Phê, song có lẽ vì mục tiêu không phù hợp với nhau, nên việc thiết lập quan hệ đã không thành.

9 NXB Hải Nam, Hải Khẩu, 2005.

10 NXB Đại học Ngôn ngữ Văn hoá, Bắc Kinh, 1997.

11 Thật ra, tổ tiên của nó có thể tính từ cuốn Vocabolario degli Accademici della Crusca.

12 NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh, 1997.

13 Hiện nay đã có bản xuất bản lần thứ 8 (2010) rồi.

14 Chữ TQ chỉ chiếm diện tích in ấn bằng khoảng 40-45% so với tiếng Anh. Nếu rút co chữ tiếng Anh xuống 1-2 cỡ (mà người TQ cũng có thói quen đọc chữ nhỏ), thì một cuốn dịch nguyên văn (+ nguyên bản) cũng chỉ có khối lượng xấp xỉ như cuốn nguyên bản.

15 Cái tên rất khó dịch: Từ điển của Viện Hàn lâm (hay Học hội) Cám. Tại sao lại là Viện Hàn lâm Cám? Vì những người sáng lập muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Ý như làm cho lúa mì sạch cám.

SUMMARY

This is a review of a kind of bilingualised dictionary made by Chinese lexicographers. They translate the complete Chinese monolingual explanatory into English. The author of this article sees this approach as inappropriate because the original Chinese dictionary is aimed at Chinese native, and not at foreign (especially English-speaking) learners.



Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 01, năm 2011

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...