Đăng nhập

Trang nhấtBách khoa toàn thưĐại Bách khoa toàn thư Liên Xô và Nga

Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô và Nga

Thứ Ba, 24 Tháng 03 2020 12:38

PGS.TS BÙI HIỀN

Bộ Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô (ĐBKTTLX – Большая Советская Энциклопедия) được coi là một công trình tra cứu khoa học tổng hợp đồ sộ bậc nhất chẳng những của riêng Liên Xô, mà còn của cả loài người. Nó ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Liên Xô là cung cấp một công cụ hữu hiệu khả dĩ tập hợp được thành hệ thống toàn bộ tri thức từ xưa đến nay về tự nhiên và con người của Liên Xô và nhân loại để lưu giữ và phổ biến cho toàn dân tra cứu, trước hết là giới tri thức, các nhà khoa học, các nhà hoạt động chính trị, giáo dục, văn hoá..., giúp họ mở rộng và nâng cao kiến thức, kiên định lập trường tư tưởng macxit-leninit, nhờ đó họ có thể tiếp tục đi sâu, tìm tòi những ý tưởng mới để phát minh, sáng tạo và ứng dụng vào thực tiễn hoạt động chuyên môn của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Liên Xô. Trong khoảng thời gian 52 năm, kể từ 1926 đến 1978, ĐBKTTLX đã trải qua 3 lần biên soạn và xuất bản. Mỗi lần tái bản đều có sửa chữa, loại bỏ, bổ sung khá nhiều các nội dung cho phù hợp với yêu cầu và trình độ nhận thức mới của thời đại, cũng như với định hướng chính trị tư tưởng của ĐCS Liên Xô trong mỗi thời kì. Tuy nhiên, về cơ bản ĐBKTTLX vẫn đảm bảo được tính bách khoa, hệ thống, khoa học, xác thực, chuẩn mựchiện đại. Chính vì thế mà ngay cả sau khi Liên Xô tan rã, ĐBKTTLX vẫn không mất đi tính thời sự khoa học ở tầm cao của nhân loại và vẫn có giá trị phổ biến không chỉ trên đất nước Nga và khối SNG ngày nay và “vẫn được coi là một trong những công trình bách khoa tốt nhất của thời đại”(1). Cho nên hoàn toàn không phải ngẫu nhiên hoặc thời thượng mà NXB Macmillan của Anh-Mĩ (Macmillan Publishers Ltd.) đã bỏ tiền ra cho dịch sang tiếng Anh và xuất bản song song toàn bộ 30 tập in lần thứ 3 của ĐBKNNLX trong suốt 11 năm (1973-1983) để phổ biến trong tất cả các nước phương Tây. Bộ ĐBKTTLX này cũng được dịch sang tiếng Hi Lạp và xuất bản vào những năm 1977-1989. Hơn thế nữa, vào năm 2001 mới đây hãng Autopan còn ghi trọn bộ 30 tập ĐBKTTLX vào 3 đĩa CD-ROM để phát hành trên toàn thế giới và đưa lên mạng Internet toàn cầu. Tuy vậy bộ ĐBKTTLX cũng có những khiếm khuyết đáng kể về nhiều mặt mà dưới đây chúng tôi sẽ kết hợp phân tích trong quá trình giới thiệu toàn bộ công trình.

 VỀ NỘI DUNG ĐBKTTLX bao gồm toàn bộ các ngành khoa học và các lĩnh vực hoạt động thực tiễn của con người được sắp xếp tổng quát như sau:

● Естественные науки Các khoa học tự nhiên

○ Археология Khảo cổ học

○ Астрономия Thiên văn học

○ Биология Sinh học

○ Геология Địa chất học

○ Медицина Y học

○ Молекулярная биология Sinh học phân tử

○ Физика Vật lí học

○ Химия Hoá học

● Математика Toán học

○ Алгоритмы Thuật toán (algorit)

○ Теория Lí thuyết, thuyết

○ Приложения Các ứng dụng

● Технология Công nghệ học

○ Авиация и машиностроение Ngành hàng không và chế tạo máy

○ Высокие технологии Các ngành công nghệ cao

○ Вычислительная техника Ngành kĩ thuật tính toán

○ Нанотехнология Ngành công nghệ nanô

○ Роботехника Ngành kĩ thuật robơt

○ Энергетика Ngành năng lượng

○ Электроника Ngành điện tử

● Гуманитарные науки Các khoa học nhân văn

○ История Sử học

○ Психология Tâm lí học

○ Социология Xã hội học

○ Экономика Kinh tế học

○ Философия Triết học

● Общество Xã hội

○ Образование Giáo dục

○ Развитие науки Phát triển khoa học

○ Ученые Các nhà khoa học

○ Экология Sinh thái học

○ Знания Tri thức

 Toàn bộ nội dung trên được thể hiện trong các mục từ, tranh ảnh minh hoạ và bản đồ với những biên độ thay đổi khá lớn cả về khối lượng kiến thức, số lượng tập sách, cũng như cách thức trình bày giữa các lần xuất bản.

 Lần xuất bản thứ nhất bộ ĐBKTTLX đã kéo dài 21 năm (1926-1947) gồm 65 tập cơ bản và một tập bổ sung riêng về “Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết – Liên Xô”. Toàn bộ ĐBKTTLX có khoảng 65.000 mục từ, hơn 1.000 bản đồ và 12.000 tranh ảnh minh hoạ. Khối lượng trung bình của mỗi mục từ vào khoảng 2.700 kí tự. Mỗi tập ĐBKTTLX được in thành 50-80 nghìn bản. Trong quá trình biên soạn đã có rất nhiều nhà khoa học nổi tiếng của Liên Xô tham gia như : Г. М. Кржижановский, Ю. Ларин, А. В. Луначарский, М. Н. Покровский, Е. А. Преображенский... và nhiều nhà lãnh đạo ĐCS và Nhà nước Liên Xô như: Н. И. Бухарин, К. Е. Ворошилов, В. В. Куйбышев, Н. Л. Мещеряков, В. П. Милютин, М. В. Фрунзе, v.v.

 Lần xuất bản thứ hai bộ ĐBKTTLX được biên soạn và ấn hành trong 8 năm (1950-1958) bao gồm 49 tập cơ bản và 3 tập bổ sung, mỗi tập in thành 250-300 nghìn bản. Điều đáng lưu ý là số lượng các mục từ đã tăng lên tới khoảng 100.000, tranh ảnh minh hoạ - hơn 40.850 và bản đồ - trên 2.360. Song khối lượng trung bình của mỗi mục từ đã giảm còn 2.000 kí tự. Lần này có hơn 40% số mục từ được ghi kèm theo nguồn tư liệu cần tham khảo thêm nguyên bản bằng 25 ngoại ngữ và 35 tiếng dân tộc của Liên Xô. Nhìn chung nội dung các mục từ vẫn tuân theo hệ tư tưởng của nhà nước, thậm chí có những mục từ phải thay hẳn nội dung cho phù hợp với những thay đổi trong đời sống chính trị của Liên Xô vào thời kì đó. Trong lần tái bản này ĐBKTTLX cũng huy động được nhiều nhà khoa học hàng đầu và các nhà hoạt động nhà nước nổi tiếng như: С. И. Вавилов, Б. А. Веденский, А. А. Зворыкин, Л. С. Шаумян, И. П. Бардин, В. В. Виноградов, А. А. Григорьев, А. А. Михайлов, Ф. В. Константинов, О. Б. Лепешинская, Б. В. Иогансон, Н. Н. Аничков ...

Lần xuất bản thứ ba bộ ĐBKTTLX gồm 30 tập cơ bản được hoàn thành trong 9 năm (1969-1978) và 1 tập bổ sung “Bảng chỉ dẫn các mục từ theo bảng chữ cái” xuất bản vào năm 1981. Số bản in của mỗi tập trung bình là 50.000, nhưng những tập cuối đã tăng lên tới 600.000. Tổng lượng các mục từ lần này là 95.279 đơn vị cùng với 3.701 bức ảnh, 29.120 tranh minh hoạ và 524 bản đồ màu, đồng thời còn có thêm đĩa nhựa ghi âm lời nói của Lênin. Khối lượng bình quân của mỗi mục từ hiện chỉ còn khoảng 1.470 kí tự, nên tổng khối lượng sách in đã rút xuống còn 30 tập, mà tổng mục từ so với lần in thứ hai chỉ kém khoảng 5.000 đơn vị. Về nội dung thì kì này chú trọng hơn đến các vấn đề triết học của khoa học tự nhiên, đến các ngành vật lí và hoá học, đồng thời cũng quan tâm hơn đến các phương pháp toán học trong kinh tế học, xã hội học, ngôn ngữ học và một số các ngành khác nữa. Còn các lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn nói chung vẫn thể hiện các quan điểm tư tưởng chính trị chính thống của ĐCS Liên Xô trong thời kì hậu Stalin. Tuy nhiên, nhiều quan điểm trình bày đã có tính chất thông thoáng hơn trước, có điểm qua những ý kiến khác về vấn đề đó, chứ không chỉ là các quan điểm học thuật thuần tuý Xô viết. Ngoài ra, giá trị thực tiễn của bộ ĐBKTTLX còn là ở chỗ nó đã trở thành nền tảng khoa học và kinh nghiệm cho việc ứng dụng vào công tác biên soạn các bộ TĐBK cỡ nhỏ, như: bộ “Từ điển bách khoa Xô viết”, một tập (Советский энциклопедический словарь) được in 4 lần từ 1979 đến 1991, bộ “Đại Từ điển bách khoa”, hai tập (Большой энциклопедический словарь) ra đời vào năm 1991, và hàng loạt bộ từ điển bách khoa chuyên ngành.

VỀ CẤU TRÚC VĨ MÔ ĐBKTTLX xếp sắp toàn bộ các mục từ của cả hệ thống hoàn chỉnh các ngành khoa học tự nhiên và xã hội - nhân văn theo thứ tự của bảng chữ cái tiếng Nga (từ A đến Я) thể hiện liên tục từ tập đầu đến tập cuối, ngoại trừ một tập chuyên đề về Liên Xô được trình bày theo thứ tự từng chương mục như: Dân số, Thiên nhiên, Lịch sử, Kinh tế, Văn hoá, các nước Cộng hoà Xô viết, v.v. Ngoài những tập cơ bản ra, ĐBKTTLX còn có thêm các tập bổ sung của lần xuất bản thứ hai: tập 51 bao gồm chủ yếu là tiểu sử của những nhà cách mạng bị Stalin đàn áp, và lần thứ ba: tập “Chỉ dẫn các mục từ theo bảng chữ cái”. Để cập nhật thông tin và kịp thời sửa chữa những thiếu sót của những lần xuất bản bộ ĐBKTTLX, hằng năm NXB còn cho in tập niên giám định kì. Từ năm 1957 đến năm 1990 đã cho ra đời được 34 tập bổ sung những sự kiện quan trọng nhất xảy ra trong năm ở Liên Xô và trên thế giới khiến cho bộ ĐBKTTLX luôn luôn đảm bảo được tính thời sự của mình. Tổng số mục từ của 30 tập bộ ĐBKTTLX là khoảng gần 100.000 đơn vị thuộc tất cả các ngành khoa học đã nêu trên và được chia thành 4 loại cơ bản về nội dung là: khái niệm, sự kiện, khách thể và tiểu sử (понятия, события, объекты и биографические статьи)”.(2). Khối lượng trung bình dành cho mỗi mục từ khoảng 1.470 kí tự về cơ bản là đủ để chuyển tải được một dung lượng kiến thức chuẩn xác của bộ môn ở mức độ có thể đáp ứng yêu cầu tham khảo để viết các niên luận khoa học năm thứ 2 hoặc thứ 3 của sinh viên các trường đại học Liên Xô (có giảm đi đáng kể so với yêu cầu của hai lần xuất bản trước là tương đương với luận văn tốt nghiệp đại học hoặc cao học). Dưới đây là một số thí dụ minh hoại tiêu biểu cho 4 loại từ mục đó để có thể hình dung phần nào độ sâu của tri thức và quy mô của bộ ĐBKTTLX:

ЛЮБОВЬ (khái niệm)

Любовь, интимное и глубокое чувство, устремлённость на другую личность, человеческую общность или идею. Л. необходимо включает в себя порыв и волю к постоянству, оформляющиеся в этическом требовании верности. Л. возникает как самое свободное и постольку "непредсказуемое" выражение глубин личности; её нельзя принудительно ни вызвать, ни преодолеть. Важность и сложность явления Л. определяются тем, что в нём, как в фокусе, пересеклись противоположности биологического и духовного, личностного и социального, интимного и общезначимого. С одной стороны, половая или родительская Л. включает в себя здоровые биологические инстинкты, общие у человека с животными, и немыслима без них. С другой стороны, Л. к идее может представлять собой интеллектуальный восторг, возможный только на определённых уровнях культуры. .................. (tổng cộng dài 5 trang).

РЕВОЛЮЦИЯ (социальная) (khái niệm)

Революция социальная, способ перехода от исторически изжившей себя общественно-экономической формации к более прогрессивной, коренной качественный переворот во всей социально-экономической структуре общества. Содержание Р. классически раскрыто К. Марксом в Предисловии к "К критике политической экономии": "На известной ступени своего развития материальные производительные силы общества приходят в противоречие с существующими производственными отношениями, или - что является только юридическим выражением последних - с отношениями собственности, внутри которых они до сих пор развивались. Из форм развития производительных сил эти отношения превращаются в их оковы. Тогда наступает эпоха социальной революции. С изменением экономической основы более или менее быстро происходит переворот во всей громадной надстройке. При рассмотрении таких перево-ротов необходимо всегда отличать материальный, с естественнонаучной точностью констатируемый переворот в экономических условиях производства от юридических, политических, религиозных, художественных или философских, короче - от деологических форм, в которых люди осознают этот конфликт и борются за его разрешение" (Маркс К. и Энгельс Ф., Соч., 2 изд., т. 13, с. 7)....................... (tổng cộng dài 2 trang).

Великая Октябрьская социалистическая революция (sự kiện)

Великая Октябрьская социалистическая революция, первая в истории победоносная социалистическая революция, совершенная в 1917 рабочим классом России в союзе с беднейшим крестьянством под руководством Коммунистической партии [прежнее название - Российская социал-демократическая рабочая партия (большевиков)] во главе с В. И. Лениным. Название "Октябрьская" - от даты 25 октября (по новому стилю - 7 ноября) - низложения Временного правительства России и перехода государственной власти в руки Советов рабочих и солдатских депутатов. В результате Октябрьской революции была свергнута в России власть буржуазии и помещиков и установлена диктатура пролетариата, создано Советское социалистическое государство. Великая Октябрьская социалистическая революция явилась торжеством марксизма-ленинизма, открыла новую эру в истории человечества - эру перехода от капитализма к социализму и коммунизму.............. (tổng cộng dài 14 trang)

Реки (khách thể)

Реки, водные потоки, текущие в естественных руслах и питающиеся за счёт поверхностного и подземного стока с их бассейнов. Р. являются предметом изучения одного из разделов гидрологии суши - речной гидрологии.

Общие сведения. В каждой р. различают место её зарождения - исток и место (участок) впадения в море, озеро или слияния с др. р. - устье...................... (tổng cộng dài hơn 4 trang)   

Ленин Владимир Ильич (tiểu sử)

Ленин (Ульянов) Владимир Ильич [10(22).4.1870, Симбирск, ныне Ульяновск, - 21.1.1924, поселок Горки, ныне Горки Ленинские, Московской области], величайший пролетарский революционер и мыслитель, продолжатель дела К. Маркса и Ф. Энгельса, организатор Коммунистической партии Советского Союза, основатель Советского социалистического государства, учитель и вождь трудящихся всего мира.

 Дед Ленина - Н. В. Ульянов, крепостной крестьянин из Нижегородской губернии, впоследствии жил в г. Астрахани, был портным-ремесленником. Отец - И. Н. Ульянов, по окончании Казанского университета преподавал в средних учебных заведениях Пензы и Н. Новгорода, а затем был инспектором и директором народных училищ Симбирской губернии. Мать Ленина - М. А. Ульянова (урождённая Бланк), дочь врача, получив домашнее образование, сдала экстерном экзамены на звание учительницы; всецело посвятила себя воспитанию детей. Старший брат - А. И. Ульянов в 1887 казнён за участие в подготовке покушения на царя Александра III. Сестры - А. И. Ульянова-Елизарова, М. И. Ульянова и младший брат - Д. И. Ульянов стали видными деятелями Коммунистической партии............................. (tổng cộng dài 8 trang).

ХАНОЙ (tiểu sử)

Ханой (Нà Nội), столица Социалистической Республики Вьетнам (СРВ). Главный экономический и культурный центр страны. Расположен на равнине (на высоте 10 м над уровнем моря) по берегам р. Хонгха (Красной), в 175 км от её впадения в залив Бакбо Южно-Китайского моря. Климат муссонный, субэкваториальный. Средняя температура января 16?C, июля 29?C. Осадков 1800 мм в год, максимум в мае - октябре. Во 2-й половине лета и осенью нередки тайфуны. Площадь 597 км2 (1974; 152 км2 в 1953). Население 1,5 млн. чел. (1976; 644 тыс. в 1960). В административном отношении Х. разделён на 4 городских района (Бадинь, Хоанкием, Донгда, Хайбачынг); включает пригороды - Тылием, Тханьчи, Зялам, Донгань.

Городское управление. Х. - город центрального подчинения. Органом власти является городской Народный совет, избираемый населением на 3 г. Его исполнительный орган - Народный комитет - избирается Народным советом на такой же срок. В каждом районе Х. избираются на 2 г. районный Народный совет и Народный комитет. Районные органы в своей работе опираются на массовые общественные организации.

Историческая справка. Поселение на месте современного города известно с 3 в. Город основан, по-видимому, в 5 в. (по др. данным - в 8 в.). В 9-11 вв. назывался Дайла, в 11 в. - 1833 Тханглаунг (Город парящего дракона), или Донгкинь (Восточная столица). В 1804, когда столица была переведена в г. Хюэ, Х. стал главным городом северной части Вьетнама. После установления французского господства во Вьетнаме в середине 80-х гг. 19 в, Х. - административный центр французского протектората Тонкина, с 1902 - столица Французского Индокитая. В 20-е гг. 20 в. стал одним из центров национально-освободительного и рабочего движения. В конце 1940, во время 2-й мировой войны 1939-45, оккупирован японскими войсками. 19 августа 1945 в ходе Августовской революции 1945 власть в Х. перешла в руки народа. 2 сентября 1945 в Х. провозглашено образование ДРВ. Конституция 1946 официально закрепила статус Х. как столицы ДРВ. В период Войны Сопротивления вьетнамского народа 1945-54 Х. оккупирован французскими войсками; выведены в октябре 1954 в соответствии с женевскими соглашениями (см. Женевские соглашения 1954). Во время американской вооруженной агрессии во Вьетнаме (1965-73) Х. неоднократно подвергался воздушным бомбардировкам, из города были эвакуированы важные промышленные предприятия, государственные учреждения, население. После заключения Парижского соглашения о прекращении войны и восстановлении мира во Вьетнаме (27 января 1973) в Х. развернулись работы по жилищному строительству, восстановлению и развитию промышленности. С завершением воссоединения С. и Ю. страны и образованием Социалистической Республики Вьетнам Х. провозглашен её столицей (2 июля 1976).

© А. Г. Буданов.

Экономика. промышленность столицы даёт около 1/6 промышленной продукции всей страны. В Х. наряду с фабрично-заводской промышленностью широко развито кустарно-ремесленное производство (насчитывается около 60 тыс. ремесленников и кустарей, объединённых в 350 кооперативов и бригад взаимопомощи). Часть населения пригородов занята в сельском хозяйстве (крестьянское население пригородов столицы объединено в более чем 300 с.-х. кооперативов высшего типа, к началу 1977). В столице производится паровозо- и авторемонт, имеются вагоно-, станко- и судостроение, электротехническое, химическое (в т. ч. обработка каучука, производство резины и резиновых изделий), лесопильная и деревообрабатывающая, текстильная (хлопчато-бумажная, шёлковые ткани), швейная, пищевая (рисоочистка и др.), табачная, керамическая промышленность, производство стройматериалов; кустарное производство предметов домашнего обихода: художественные ремёсла - резьба по слоновой кости и дереву в сочетании с инкрустацией перламутром, плетение, производство лаковых изделий, вышивка, литьё из металла. Х. - важный транспортный узел страны, через него проходят трансвьетнамская ж.-д. магистраль, 5 шоссейных дорог. В пригороде Зялам международный аэропорт. Х. - речной порт, доступный для небольших судов; морской аванпорт столицы - Хайфон, с которым она связана шоссе и железной дорогой.

© В. Д. Летягин.

Планировка и архитектура. Планировочная структура современного Х. сформировалась в 19 - 1-й половине 20 вв. Старая часть города (Старый город), сконцентрированная в районе озера Возвращенного меча, включает 36 кварталов, дифференцированных по роду занятий их обитателей. Для старой части Х. характерны чрезвычайно высокая плотность застройки, недостаток зелени, преимущественно 2-этажные дома, с лавками и мастерскими на 1-м этаже. Новая часть города (Новый город; с 2- и 3-этажными домами европейского типа, многочисленными садами и парками) окружает Старый город с З. и Ю. Среди памятников средневекового зодчества - пагода Дьен-Бо на одном столбе (Мот-Кот: 1049), Храм двух сестёр Чынг, Храм Нефритовой горы на озере Возвращенного меча, Храм Чан-Ву, Храм литературы, посвященный Конфуцию (1070).После 1954 ведётся интенсивное промышленное, жилищное и культурно-бытовое строительство. Среди примечательных сооружений - Мавзолей Хо Ши Мина (1975), Политехнический институт (1960-е гг., советский архитектор Е. С. Будник и др.). В 1970-е гг. советскими (Е. Г. Розанов и др.) и вьетнамскими архитекторами разрабатывается новый генеральный план Х., предусматривающий реконструкцию и благоустройство старых кварталов, возведение промышленных предприятий и жилых массивов (в т. ч. городов-спутников) на свободных территориях, сооружение 2 новых мостов через р. Хонгха.

© Хоанг Дао Кинь.

Учебные заведения, научные и культурные учреждения. В Ханое имеется 377 средних школ (1975/76 учебном году), ряд средних специальных учебных заведений (свыше 50 тыс. учащихся), 25 вузов, в том числе Ханойский университет, институты: политехнический, сельского и лесного хозяйства, педагогический, финансовый, медико-фармацевтический, транспортный, ирригации и энергетики, экономики и планирования, педагогический институт иностранных языков, консерватория, Школа национального музыкального театра, Высшая драматическая школа, киношкола и др. Государственный комитет общественных наук СРВ, куда входят научно-исследовательские институты литературы, экономики, истории, философии, права: Государственный комитет по науке и технике, куда входят НИИ мер и стандартов, математики, химии, физики и др. Государственная библиотека СРВ, Центральная научная библиотека, библиотека университета и др. Музеи: Исторический, Революции, Вьетнамской народной армии, Художественный. Ботанический сад. Имеются: Центральный драматический театр, Городской театр, Театр кукол, цирк, киностудия и др. См. илл. Лит.: Щедров И. М., Ханой, М., 1962.

 Nhìn chung trên bình diện vĩ mô, bộ ĐBKTTLX 30 tập đã đảm bảo tuân thủ được một số nguyên tắc cơ bản như: 1. tính định danh của toàn bộ từ mục được lựa chọn, nghĩa là chỉ lấy danh từ và danh ngữ là đơn vị từ mục, chứ tuyệt đối không có các từ mục là tính từ, động từ v.v.; 2. tính hệ thống trong việc cung cấp và trình bày kiến thức của các ngành khoa học trong suốt cả 30 tập tuy được được xếp sắp theo vần của bảng chữ cái Nga A... Я, nhưng không có sự lộn xộn, chồng chéo về kiến thức giữa các khái niệm, phạm trù, chủng loại trong từng ngành và liên ngành; 3. tính cân đối giữa các phần nội dung trong nước và ngoài nước (khoảng 50% -50%), giữa các ngành khoa học có những vai trò, vị trí khác nhau (sự thiên lệch về các ngành khoa học xã hội theo quan điểm stalinit và sự coi nhẹ những ngành khoa học kĩ thuật hiện đại đã được khắc phục đáng kể trong lần xuất bản thứ 3 bộ ĐBKTTLX); 4. tính khoa học đã được khảo nghiệm, chứng minh qua thực tiễn của nội dung kiến thức, không có những suy luận ngẫu hứng, tuỳ tiện, chủ quan, phiến diện, hoang đường; 5. tính xác thực của những sự kiện đã diễn ra trong thực tiễn, của những tài liệu có thực trong thực tế và trên các văn bản có thực, không có những thông tin chỉ dựa trên dư luận, truyền miệng; 6. tính đầy đủ thông tin nói lên đúng bản chất của đối tượng trong các mục từ, không cắt xén, bóp méo những thông tin cơ bản liên quan đến bản chất của sự vật; 7. tính súc tích, ngắn gọn trong việc truyền đạt nội dung, không miêu tả tràn lan, diễn dịch dài dòng, trùng lặp câu chữ trong mỗi mục từ; 8. tính phổ thông, bình dị trong cách diễn giải bằng những câu chữ đơn giản, sáng nghĩa khi trình bày vấn đề, tránh tối đa dùng lối viết hàn lâm trong siêu ngôn ngữ từ điển; 9. tính tiện ích trong việc hỗ trợ tìm kiếm dễ dàng và nhanh chóng các thông tin cần thiết trong bộ ĐBKTTLX theo thứ tự ABC của mỗi tập và của toàn bộ 30 tập trong tổng tập “Chỉ dẫn tra cứu các từ mục theo alphabet”, theo những chú dẫn ngay trong và cuối mỗi mục từ, cũng như những chỉ dẫn tìm kiếm bổ sung ngoài phạm vi bộ sách.

 Tuy nhiên, công trình khoa học đồ sộ này cũng còn chưa khắc phục được một số nhược điểm có tính nguyên tắc, như: 1. không đảm bảo tính nhất quán về các tiêu chí trong việc lập danh sách các từ mục, nên xảy ra tình trạng không đồng nhất trong ĐBKTTLX. Thí dụ: có các từ mục буйволы trâu, быки , свинья lợn, собака chó..., nhưng lại không có кошка mèo; có từ mục тигр hổ, пантера báo..., nhưng lại không có лев sư tử; rồi thấy có các mục từ крыша mái nhà, пролёт xà nhà, балкон ban công..., nhưng lại thiếu дверь cái cửa, окно cửa sổ, столб cái cột..., thậm chí không có cả дом cái nhà, здание toà nhà..., nghĩa là vô cớ loại bỏ những mục từ tương đương đáng được cung cấp thông tin khoa học. Hoặc giả như sự thiếu tính nhất quán thể hiện ở chỗ là có nơi thì đưa cả danh từ tập hợp lẫn danh từ cá thể thành những từ mục riêng như: студенчество giới sinh viên và студент sinh viên, профессура tập thể giáo sư профессор giáo sư; trong khi đó có nơi lại chỉ cho một vế như: крестьянство tầng lớp nông dân, mà lại không cho крестьянин người nông dân, cho пролетариат giai cấp vô sản, nhưng lại không cho пролетарий người vô sản, cho интеллигенция tầng lớp trí thức, nhưng cũng không cho интеллигент người trí thức; thậm chí có khi không cho cả hai từ mục quan trọng như : учительство giáo giới và учитель giáo viên v.v. Những thiếu sót kiểu như vậy làm cho bộ ĐBKTTLX trở nên chưa thực sự hoàn chỉnh về mặt nội dung ở tầm vĩ mô và chưa thực sự hoàn thiện về mặt cấu trúc của cả hệ thống công trình khoa học; 2. không tránh khỏi thái độ có tính cực đoan, thiên vị về chính trị tư tưởng, nên đã có những ứng xử thiếu khách quan nhất định trong việc lựa chọn cũng như giải thích các từ mục có liên quan đến các sự kiện chính trị-xã hội và nhất là đối với các nhân vật lịch sử quan trọng trong nước cũng như trên thế giới. Thí dụ: Mao Trạch Đông không có trong ĐBKTTLX... Cách xử lí thiếu vô tư như vậy làm ảnh hưởng nhất định đến những giá trị đích thực khách quan khoa học của toàn bộ công trình.

VỀ CẤU TRÚC VI MÔ của những mục từ trong ĐBKTTLX cho thấy một bức tranh hết sức đa dạng trong cách miêu tả, trình bày và xếp sắp nội dung, bởi lẽ gần 100 nghìn từ mục muốn thể hiện hết những thông tin cần thiết của toàn bộ kho tàng tri thức phong phú, nhiều tầng, nhiều bậc, nhiều sắc thái của Liên Xô và nhân loại, thì tự thân các mục từ đòi hỏi phải mang tính chất mở tương đối để liên kết thông tin (dưới hình thức chú thích, chuyển chú, chỉ dẫn ở ngay trong hoặc ở cuối mục từ) khiến cho nội dung của mục từ trở nên sâu sắc và hoàn chỉnh hơn. Ngoài ra các từ mục của ĐBKTTLX cũng có một nguyên tắc bắt buộc phải tuân theo đó là đảm bảo tính định danh, nghĩa là trước hết mỗi từ mục phải có một định nghĩa xác định, rõ ràng và ngắn gọn để chỉ ra: đây là ai? là con gì? là cái gì? là việc gì? là sự gì? v.v. Tiếp sau đó mới triển khai miêu tả, trình bày, diễn giải, minh hoạ toàn bộ nội dung của mục từ. Điều quy định bắt buộc này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng là ngay từ câu đầu tiên người tra cứu thông tin có thể nắm bắt được chính xác nội dung cơ bản nhất về đối tượng tìm kiếm và sau đó nếu thấy cần thiết mới tiếp tục đọc đến hết để có thêm được những hiểu biết kĩ càng và đầy đủ về mọi khía cạnh của đối tượng.

 Trên đây là một số nét khái quát chủ yếu về bộ ĐBKTTLX mà chúng tôi tổng hợp được để giới thiệu cho những ai có ý định tìm hiểu và tham khảo. Có thể khẳng định rằng cho đến nay đây vẫn là công trình khoa học nghiêm túc và có giá trị vào bậc nhất trên thế giới mà các nhà khoa học và những độc giả quan tâm có thể tra cứu để thu nhận những thông tin bổ ích cho công tác và cuộc sống của mình.

Còn bộ ĐBKTT Nga (Большая Российская Энциклопедия) được Tổng thống Putin quyết định cho ra đời với sứ mệnh là để thay thế bộ ĐBKTTLX và hiện nay đã xuất bản được 17 tập. Toàn bộ 30 tập dự kiến sẽ phải hoàn thành trong khoảng giữa những năm 2013-2015. Về nhiều mặt, bộ ĐBKTTN mới này vẫn tiếp tục tuân theo những nguyên tắc cơ bản trong việc biên soạn của bộ ĐBKTTLX trước đây. Tuy nhiên về nội dung khoa học của hầu hết các mục từ, thực tế có tới 95-96%, đều được viết lại để điều chỉnh và cập nhật thông tin cho phù hợp với yêu cầu của thời đại mới, đặc biệt là trình độ khoa học và tính chính xác của những luận cứ trong các mục từ đều được nâng cao hơn so với bộ ĐBKTTLX xuất bản lần thứ 3. Do đó đây sẽ là công trình thay thế xứng đáng các bộ ĐBKTTLX cũ và đang được mọi người chờ đợi.

NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Энциклопедия, http:/ru.wikipedia.org, 16-11-2009.

[2] А. П. Горкин, “Что такое энциклопедия?” và các số liệu dẫn ra trong bài viết đều dựa theo trang web: Great-soviet-encyclopedia.ru và www.rubricon.com // “Большая Советская Энциклопедия”.

SUMMARY

The Great Encyclopedia of the Soviet Union is a grandiose first-class, comprehensive scientific reference work not only for the (former) Soviet Union but also for the whole mankind. Over 52 years (1926-1978), this work underwent three times of compilation and publication, yet still retaining its systematic, scientific, standardized and modern characteristics. The author gives a brief introduction of this book according to the contents and form of presentation, with some specific illustrative entries.


Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 02, năm 2011

Tin mới cùng mục

Tìm kiếm

Điện thoại liên hệ: 024 62941739

Đọc nhiều

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu

Từ điển học trên đường học tập và nghiên cứu...

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM: PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP, HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI*...

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH  CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019

BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CHO ĐỐI TƯỢNG 4 NĂM 2019...

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết Nguyên đán 2015

Hoạt động tình nguyện của Chi đoàn Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam nhân dịp Tết...

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)

Từ điển học hệ thống: Một số thành tựu Ngôn ngữ học Nga và Xô Viết (phần 2)...